Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/DS-ST

Ngày 20-9-2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Hận

Bà Khưu Liên Dung

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 288/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S. Trụ sở chính: Số B N, Phường V, Quận C, TP .. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Diệp Lâm Kỳ P – Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh B (theo văn bản ủy quyền số 3524/2023/QĐ - PC ng 25/12/2023). Địa chỉ chi nhánh: Số B đường T, Khóm E, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh P1 – Chuyên viên quản lý nợ (theo văn bản ủy quyền số 528/2024/GUQ - CNBL ngày 19/6/2024).

Bị đơn: Ông Lê Thanh Q, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số B, đường V, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông P1 và ông Q vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 16/3/2023, ông Lê Thanh Q và Ngân hàng TMCP S có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của ông Lê Thanh Q, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Q với hạn mức sử dụng là 90.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, ngày chốt thông báo giao dịch là 5; lãi suất tại thời điểm làm thẻ 29,8%/năm.

Sau khi được cấp thẻ ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 146.127.861 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay, ông Q thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68.130.000 đồng.

Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP S yêu cầu buộc ông Lê Thanh Q trả nợ vay tổng số tiền là 110.538.228 đồng tính đến hết ngày 11/06/2024 (trong đó: nợ gốc là 102.052.812 đồng; lãi quá hạn là 8.485.416 đồng).

Tại Đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/9/2024, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc ông Lê Thanh Q thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 122.499.526 đồng, trong đó nợ gốc là 98.228.093 đồng, lãi quá hạn là 24.271.433 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ. Không có yêu cầu gì khác.

Theo bị đơn ông Lê Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến được.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Lê Thanh Q về số tiền vốn gốc là 3.824.719 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Lê Thanh Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Buộc ông Lê Thanh Q thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 122.499.526 đồng, trong đó nợ gốc là 98.228.093 đồng, lãi quá hạn là 24.271.433 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lê Thanh Q có địa chỉ tại Số B, đường V, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Xét về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có quyền rút một phần yêu cầu khởi kiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả khoản nợ gốc là 3.824.719 đồng.

[3] Về nội dung vụ án xét thấy: Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] ngày 16/3/2023 được ký kết giữa ông Lê Thanh Q với Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh B, giấy căn cước công dân của ông Q, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 16/3/2023, ông Lê Thanh Q với Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh B có ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] ngày 16/3/2023 với hạn mức sử dụng là 90.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, ngày chốt thông báo giao dịch là 5; lãi suất tại thời điểm làm thẻ 29,8%/năm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 146.127.861 đồng và ông Q thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68.130.000 đồng. Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và tính đến ngày 20/9/2024 ông Q còn nợ Ngân hàng số tiền là 122.499.526 đồng, trong đó nợ gốc là 98.228.093 đồng, lãi quá hạn là 24.271.433 đồng.

Như vậy, Hợp đồng tín dụng được xác lập và thoả thuận trên cơ sở tự nguyện của hai bên, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận hợp pháp. Tại mục iii của phần cam kết trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] ngày 16/3/2023 thể hiện: “Chủ thẻ đồng ý cho trích tiền từ tài khoản tại Ngân hàng để thanh toán dư nợ, phỉ”. Như vậy, chủ thẻ đồng ý cho Ngân hàng thay chủ thẻ trích tiền gốc từ tài khoản để thanh toán dư nợ và phí trong tài khoản nên các khoản tiền trích này trở thành nợ gốc. Ngoài ra, tại điểm b khoản 24.4 trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] ngày 16/3/2023 quy định khi vi phạm xảy ra, chủ thể hiểu và đồng ý rằng Ngân hàng có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: “Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S1.”

Như vậy, việc Nguyên đơn thông báo thu hồi quyền sử dụng thẻ, chuyển dư nợ quá hạn với số tiền 98.228.093 đồng và áp dụng mức lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn là phù hợp quy định tại Điều 100; Điều 103 và Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/9/2024 là 122.499.526 đồng, trong đó nợ gốc là 98.228.093 đồng, lãi quá hạn là 24.271.433 đồng và nợ lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã ký cho đến khi Bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đối với Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[4] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.

[5] Về án phí: Ông Lê Thanh Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 122.499.526 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.124.500 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp 2.763.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002881 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 5; khoản 2 Điều 71; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • Điều 100; Điều 103 và Điều 107 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • Điều 429; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Lê Thanh Q về số tiền vốn gốc là 3.824.719 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Lê Thanh Q
    • Buộc ông Lê Thanh Q có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 122.499.526 đồng, trong đó nợ gốc là 98.228.093 đồng, lãi quá hạn là 24.271.433 đồng.
    • Kể từ ngày 21/9/2024, bà ông Lê Thanh Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số [...] ngày 16/03/2023 được ký kết giữa ông Lê Thanh Q với Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh B cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng đã ký các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Về án phí:
    • Buộc ông Lê Thanh Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.124.500 đồng.
    • Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp 2.763.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002881 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • -CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 126/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S - Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger