Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/DS-ST

Ngày 11-9-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2023, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Trung T; sinh năm 1994 (Có mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lý Ngọc T1; sinh năm 1963 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Ông Lê Văn V; sinh năm 1969 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn N; sinh năm 1963 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau

  3. Bà Lý Ngọc T1; sinh năm 1963 (Có mặt)
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bà T1: Ông Lý Ngọc H; sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt)

  5. Bà Nguyễn Thu V1 (Vắng mặt)
  6. Anh Hồ Hoài E (Vắng mặt)
  7. Ông Hồ Văn T2 (Có mặt)
  8. Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

  9. Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T (Xin vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/02/2023, các biên bản làm việc và tại phiên tòa, anh Lê Trung T và bà Lý Ngọc T1 và ông Lý Ngọc H thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Đất tranh chấp do ông bà nội của anh T là ông Lê Văn K và bà Huỳnh Thị Đ cho lại anh T, phần đất có diện tích 5.250 m² thuộc thửa 202, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T.

Phần đất tranh chấp có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông V2, phía Tây giáp đất ông N, phía Nam giáp đất ông T3, phía Bắc giáp đất ông V2.

Trước đây ông K bà Đ vẫn canh tác do gia đình anh T đi làm ăn xa. Đến năm 2004 thì giao lại cho gia đình anh T phần đất này rồi gia đình cho bà Lê Thị D (chị thứ 4 của ông N) thuê lại đến 2017 thì lấy đất lại. Hiện nay anh T là người quản lý đất, trước đây có cho anh Hồ Hoài E thuê, thời gian gần đây cho ông Hồ Văn T2 thuê lại. Năm 2015 anh T đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện ông V đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên và đem thế chấp tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T để vay tiền nên phát sinh tranh chấp. Quá trình hòa giải ở UBND xã T ông V có hứa hẹn sẽ chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng ra để làm thủ tục tách thửa cho anh T nhưng đến nay không thực hiện.

Nay anh T yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ T4 thửa trả lại cho anh phần đất đất theo đo đạc thực tế có diện tích 5.302,7 m² thuộc thửa 378, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T. Đồng thời công nhận cho anh đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.

Tại biên bản làm việc ngày 14/3/2023 và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn V trình bày:

Theo ông V thì nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ông V tên Lê Văn K và bà Huỳnh Thị Đ cho ông Lê Văn N (tên gọi khác là M), là cha ruột của anh T đã hơn 30 năm, ông N quản lý liên tục đến năm 2018 thì giao lại cho con ruột là anh T. Vào khoảng năm 1985, ông K cho lại ông N nhưng ông N chưa nhận đất ngay vì lúc đó ông N có điều kiện khá giả nên để lại cho ông K canh tác lấy tiền sinh sống.

Tại khu đất tranh chấp có 4 phần đất gồm: Phần đất ông K cho ông V thì ông V đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông V, kế đến là phần đất của người em thứ 6 tên Lê Văn N (N) cũng được cấp quyền sử dụng đất riêng, kề đó là phần đất ông K cho ông N (M), cuối cùng là phần đất ông K bán cho ông V. Phần đất thứ 3 (của ông M) và phần đất thứ 4 (ông V mua) vẫn còn đứng tên ông K.

Sau đó ông K mới đổi phần đất ông K cho ông N (M) với phần đất thứ nhất (đất ông K cho ông V) để ông V được liền ranh với phần đất ông V mua của ông K. Việc đổi đất vào khoảng năm 1990. Phần đất ông Vũ Đ1 cho ông M và phần đất ông V mua của ông K vẫn còn đứng tên ông K và được người em út tên Lê Minh D1 thế chấp để vay Ngân hàng nên hiện nay phần đất đổi và đất mua của ông V đều chưa được sang tên quyền sử dụng đất nhưng giữa ông và ông D1 là anh em nên không có tranh chấp với nhau.

Phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lê Văn V được ông V kê khai và được cấp quyền sử dụng cùng thời điểm với ông K.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của anh T thì ông V đồng ý nhưng cần thêm thời gian để kiếm tiền chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất trên do hiện nay ông đang gặp khó khăn về kinh tế.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 15/5/2023 và bản tự khai ngày 19/8/2024, Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T xác định: Căn cứ hồ sơ vay vốn của ông Lê Văn V ngày vay 24/02/2023, đến hạn ngày 20/02/2026, số tiền vay: 280.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi tính đến ngày 11/9/2024 là 326.360.000 đồng. Trong đó vốn 280.000.000 đồng, tiền lãi 46.360.000 đồng, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ông V có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phần đất tranh chấp. Nay Ngân hàng yêu cầu buộc hộ vay trả nợ vay và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông Vũ T4 thửa trả lại cho anh phần đất đất có diện tích 5.302,7 m² thuộc thửa 378, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T. Đồng thời công nhận cho anh đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.

Ông V đồng ý tách thửa đất trả lại khi gia đình ông N định đoạt đất thuộc về ai thì ông sẽ trả đất cho người đó nhưng cần thêm thời gian để kiếm tiền chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất trên do hiện nay ông đang gặp khó khăn về kinh tế.

Ông T2 xác định ông là người thuê đất của anh T, hai bên thỏa thuận thuê không kỳ hạn và trả tiền hàng năm. Khi nào anh T cần lấy lại đất thì cho ông biết trước một thời gian hợp lý ông sẽ trả lại đất cho anh T. Đối với việc tranh chấp đất giữa anh T và ông V thì ông không có ý kiến. Ông T2 xác định không có tranh chấp với ai nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ T4 thửa trả lại cho anh phần đất đất theo đo đạc thực tế có diện tích 5.302,7 m² thuộc thửa 378, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T. Đồng thời công nhận cho nguyên đơn đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.

Trường hợp ông N và bà T1 có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng về việc buộc hộ vay thanh toán nợ vay và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: anh Lê Trung T khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn V tách thửa đối với phần đất tranh chấp và công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên. Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thu V1, anh Hồ Hoài E và Ngân hàng N2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự khác vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa anh Lê Trung T với ông Lê Văn V là thực tế có xảy ra. Tại Bản vẽ trích đo hiện trạng lập ngày 06/3/2020 của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và môi trường tỉnh C thể hiện phần đất tranh chấp được giới hạn bởi các mốc M1M2M3M4M1có diện tích theo đo đạc thực tế 5.302,7m², thuộc thửa số 378, tờ bản đồ địa chính số 18 (bản đồ chỉnh lý năm 2018), tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T ký cấp ngày 05/5/1997 cấp cho ông Lê Văn V, được các đương sự thống nhất về kích thước, diện tích và vị trí đất tranh chấp.

[3] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Các đương sự đều thống nhất về nguồn gốc đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Lê Văn K và bà Huỳnh Thị Đ tặng cho ông Lê Văn N và bà Lý Ngọc T1 vào khoảng năm 1986. Do ông N và bà T1 sống ly thân nên bà Đ và hàng thừa kế thứ nhất của ông K gồm ông Lê Văn N, Lê Văn V và Lê Minh D1 cho lại anh T thể hiện tại “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” ngày 17/3/2015. Từ đó đến nay anh T trực tiếp quản lý phần đất này nên anh T kiện ông V yêu cầu tách thửa đối với phần đất trên để anh được đứng tên quyền sử dụng đất.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 17/5/2024 đối với ông Lê Văn N xác định phần đất tranh chấp là tài sản chung của ông và bà T1 được cha mẹ ruột ông N tặng cho trong thời kỳ hôn nhân. Thời điểm ly hôn và đến thời điểm này tài sản chưa được phân chia và ông N chỉ ủy quyền lại cho anh T canh tác và hưởng lợi trên phần đất này mà không tặng cho luôn.

Đối với việc ông V đứng tên quyền sử dụng đất ông N xác định ông và anh em trong gia đình đều biết do trước đây anh em có đổi đất với nhau, phần đất này trước đây do ông V quản lý và tự kê khai, sau này đổi lại thì giấy chứng nhận đã thế chấp Ngân hàng nên không làm thủ tục đổi quyền sử dụng đất cho ông N. Ông N với ông V không tranh chấp nên ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.

[3] Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất tranh chấp được ông V kê khai đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng quy định của pháp luật tại thời điểm cấp.

[4] Xét quá trình quản lý, sử dụng đất: Các bên thừa nhận phần đất tranh chấp là của ông N và bà T1 được tặng cho vào năm 1986, thời gian đầu ông N giao lại cho ông K bà Đ quản lý, đến năm 2013 ông N bỏ đi thì anh T mới quản lý phần đất này trên cơ sở “Văn bản phân chia tài sản thừa kế”. Tuy nhiên các bên đều thừa nhận năm 1986 ông K bà Đ đã tặng cho ông N, năm 1997 ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N xác định không tranh chấp với ông V nên thời điểm xác lập văn bản trên thì đất tranh chấp không thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông K bà Đ. Vì vậy, đến năm 2015 là gần 30 năm sau khi đã tặng cho ông N bà T1 thì bà Đ và một số người trong hàng thừa kế của ông K (chỉ có ông Lê Văn N em, Lê Văn V, Lê Minh D1) không có quyền định đoạt đối với tài sản trên nhưng lại chia thừa kế cho anh T là không hợp lý.

[5] Như vậy, việc xác lập quyền sử dụng đất của anh T đối với phần đất tranh chấp là không có cơ sở. Bên cạnh đó, ông N không thừa nhận việc tặng cho phần đất này đối với anh T, còn anh T cũng xác định anh được bà Đ và các cô chú tặng cho mà không phải là ông N và bà T1 nên anh T không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc tặng cho giữa ông N bà T1 với anh T. Như vậy, không có cơ sở kết luận có việc anh T được tặng cho đối với phần đất tranh chấp trên thực tế nên anh T không có quyền khởi kiện trong vụ án này.

[6] Đối với ông N và bà T1 đều xác định đây là tài sản trong thời kỳ hôn nhân chưa được phân chia nên ông N và bà T1 mới có quyền khởi kiện đối với ông V. Trường hợp ông N và bà T1 có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[7] Từ những căn cứ trên, xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T về việc yêu cầu ông Vũ T4 thửa và công nhận quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp.

[8] Xét yêu cầu thanh toán nợ vay của Ngân hàng N1 đối với ông V là có cơ sở bởi ông V đã vi phạm kỳ hạn trả nợ gốc và lãi và việc giải quyết vụ án có liên quan đến tài sản thế chấp nên cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Xét khoản vay là nợ chung của ông V và bà V1 nên cần buộc ông V và bà V1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ gốc và lãi tính đến 11/9/2024 bằng số tiền 326.360.000 đồng. Trong đó vốn 280.000.000 đồng, tiền lãi 46.360.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký. Đồng thời cần duy trì hợp đồng thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.

[9] Tại biên bản xem xét thẩm định phần đất tranh chấp và các tài sản có trên phần đất tranh chấp ngày 21/11/2023 và biên bản định giá thể hiện phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 5.302,7m² được định giá 166.349.000 đồng (tính tròn số). Trên phần đất tranh chấp không ghi nhận tài sản nào khác.

[10] Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 400.000 đồng được anh T tạm ứng thanh toán. Do yêu cầu khởi kiện cuả nguyên đơn không được chấp nhận nên anh T phải chịu chi phí trên là phù hợp theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.

[11] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng N1 không phải chịu án phí, có dự nộp được nhận lại. Ông V, bà V1 phải chịu án phí trên số tiền bị buộc trả cho Ngân hàng.

[12] Các vấn đề khác: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo luật định.

[13] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai; Điều 147, 157, 165, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Trung T về việc buộc ông Lê Văn V tách thửa trả lại cho anh phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 5.302,7 m² thuộc thửa 378, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T và công nhận cho anh T đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N1 về việc buộc hộ vay thanh toán nợ vay. Buộc Lê Văn V và bà Nguyễn Thu V1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/9/2024 bằng số tiền bằng số tiền 326.360.000 đồng. Trong đó vốn 280.000.000 đồng, tiền lãi 46.360.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký.
  3. Duy trì hợp đồng thế chấp số 29579/HĐTC ngày 28/11/2013 đối với phần đất đứng tên Lê Văn V để ưu tiên thu hồi nợ cho Ngân hàng.

  4. Về chi phí xem xét thẩm định: Anh Lê Trung T phải chịu 400.000 đồng, anh T đã thanh toán xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Trung T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng. Ngày 14/02/2023 anh T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 003366 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ không phải nộp tiếp.
  6. Ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thu V1 phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 16.318.000 đồng (chưa nộp).

    Ngân hàng N1 không phải chịu án phí. Ngày 29/5/2023 Ngân hàng N1 đã dự nộp số tiền 7.168.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003655 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.

  7. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 126/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đòi đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger