Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/9/2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tua
  2. Ông Nguyễn Văn Khải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 10/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2024 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2024/QĐST-DS ngày 30/8/2024 giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc P, sinh năm: 1992.

    Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  2. Bị đơn: Chị Trần Mỹ H, sinh năm: 1990.

    Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

    Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

    (Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn anh Nguyễn Quốc P trình bày: Anh Nguyễn Quốc P và chị Trần Mỹ H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không thể tiếp tục chung sống được nên đã ly thân. Nay anh Nguyễn Quốc P yêu cầu ly hôn với chị Trần Mỹ H.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Như Ý, sinh ngày 20/7/2020. Con chung hiện đang sống với anh Nguyễn Quốc P, khi ly hôn anh Nguyễn Quốc P yêu cầu được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn chị Trần Mỹ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Anh Nguyễn Quốc P đã nộp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh con chung, đơn xin xác nhận, đơn xin vắng mặt, bản sao căn cước công dân.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về xác định quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy xác định quan hệ tranh chấp là “ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về xác định thẩm quyền: Bị đơn chị Trần Mỹ H có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang nên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Mỹ H đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Đối với anh Nguyễn Quốc P có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Mỹ H và anh Nguyễn Quốc P theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc P và chị Trần Mỹ H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để cho anh Nguyễn Quốc P và chị Trần Mỹ H hòa giải với nhau nhưng không mang lại kết quả. Anh chị cũng đã ly thân với nhau. Xét thấy hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện và phải có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của anh Nguyễn Quốc P và chị Trần Mỹ H đã phát sinh mâu thuẫn và không còn sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Quốc P được ly hôn với chị Trần Mỹ H.

[5]. Về con chung: Anh Nguyễn Quốc P yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Trần Như Ý. Xét thấy từ khi anh Nguyễn Quốc P và chị Trần Mỹ H ly thân đến nay con chung sống với anh Nguyễn Quốc P, cuộc sống của cháu cũng đã ổn định. Do đó để ổn định cuộc sống hiện tại cho cháu, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trần Như Ý cho anh Nguyễn Quốc P tiếp tục nuôi dưỡng.

[6]. Chị Trần Mỹ H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[7]. Do anh Nguyễn Quốc P không có yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có yêu cầu anh Nguyễn Quốc P có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[8]. Về tài sản chung và nợ chung: Về tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án và được kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, 6, 28, 35, 39, 91, 147, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc P, anh Nguyễn Quốc P được ly hôn với chị Trần Mỹ H.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Như Ý, sinh ngày 20/7/2020 cho anh Nguyễn Quốc P tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Trần Mỹ H chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị Trần Mỹ H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn chị A Nguyễn Quốc P phải nộp số tiền là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu tiền số 0008755 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành án phí, anh Nguyễn Quốc P không phải nộp thêm.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Chi cục TAHDS huyện Vị Thủy;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Cổng TTĐT (để công bố);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Quách Thị Mỹ Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger