TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ****** |
Bản án số 126/2024/HSST
Ngày: 17/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Như Hùng
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 14/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 24/05/2024 đối với bị cáo:
Lương Quốc D, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: số A T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân B và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 09/7/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản (ra trại ngày 01/9/2009, phạm tội khi dưới 16 tuổi).
- Ngày 20/11/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ra trại ngày 16/11/2015, đã nộp án phí ngày 04/4/2014).
- Ngày 21/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ra trại ngày 21/01/2020, đã nộp án phí ngày 29/9/2016).
D1 chỉ bản số 495 lập ngày 20/11/2023 tại Công an quận T; bị tạm giữ từ ngày 15/11/2023, tạm giam từ ngày 21/11/2023. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an T4 (Có mặt).
Người bị hại: Chị Nguyễn Thảo Q, sinh năm 2000; HKTT: số E T, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Tòa N chung cư K, phường T, H, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, HKTT và chỗ ở hiện nay: Số F A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14/11/2023, Lương Quốc D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng, biển kiểm soát 15B3 - 094.45 từ thành phố H, tỉnh Hải Dương đến khu vực Đ, H, Hà Nội để bán đồng hồ đeo tay cho khách mua. Do cần tiền trả nợ, D nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường. Khoảng 00 giờ ngày 15/11/2023, khi đi qua khu vực trước số C L, K, T, Hà Nội, D phát hiện anh Phạm Xuân T2 (sinh năm 1999; nơi thường trú: số C T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định) điều khiển xe máy chở chị Nguyễn Thảo Q, tay phải chị Q đang cầm, sử dụng chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu hồng. Thấy vậy, D điều khiển xe máy áp sát vào bên phải xe máy của anh T2, dùng tay trái giật chiếc điện thoại của chị Q rồi tẩu thoát. Ngay sau đó, chị Q đã đến Công an phường K trình báo sự việc. Đồng thời, anh T2 đăng nhập vào tài khoản Icloud của chị Q và phát hiện chiếc điện thoại của chị Q đang ở đường N thuộc phường T, quận L, Hà Nội. Anh Tú, chị Q cùng anh Phạm Minh Đ (sinh năm 2002; nơi thường trú: Số D H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định) và anh Đặng Thế V (sinh năm 1999; nơi thường trú: Số E G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) là bạn của anh T2, chị Q đi theo định vị đến địa chỉ trên, đồng thời trình báo Công an phường T.
Khoảng 04 giờ ngày 15/11/2024, Công an phường T kiểm tra hành chính Lương Quốc D trên đường N, phường T, quận L, Hà Nội, D thừa nhận thực hiện hành vi cướp giật tài sản nêu trên và giao nộp lại chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được. Công an phường T đã đưa D cùng tang vật về trụ sở để làm rõ và bàn giao cho Công an quận T xử lý theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, gắn sim số: 0941.156.693, số IMEII: 357846852177315, số IMEI2: 357846852151872;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng, biển kiểm soát 15B3 - 094.45 đã qua sử dụng, số khung: RLHKF2518GY046871, số máy: KF26E-0046809.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong TTHS - UBND quận T, kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 13 dung lượng 128 GB, màu hồng (tình trạng đã qua sử dụng) tại thời điểm tháng 11/2023 có giá là 11.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 97/CT-VKSTX ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Lương Quốc Duy về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lương Quốc D từ 38 đến 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại anh T1 chiếc xe máy đã thu giữ.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo D khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 00 giờ ngày 15/11/2023, tại khu vực trước số C L, K, T, Hà Nội, Lương Quốc D điều khiển xe máy đi áp sát với xe máy của anh Phạm Xuân T2 đang chở chị Nguyễn Thảo Q, rồi thực hiện hành vi dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu hồng của chị Q trị giá 11.000.000 đồng, và nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Cướp giật tài sản với tình tiết tăng nặng định khung là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và có thể gây nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Nhân thân bị cáo đã 03 lần bị kết án, mặc dù đã được xoá án tích, nhưng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, song nay bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả người bị hại; bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huân chương vì nghĩa vụ quốc tế. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thảo Q đã được cơ quan điều tra trao trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng mà bị cáo đã chiếm đoạt, chị Q không có đề nghị bồi thường gì khác nên Toà không xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng, biển kiểm soát 15B3 - 094.45 đã qua sử dụng, số khung RLHKF2518GY046871, số máy KF26E-0046809 thu giữ của bị cáo D, quá trình điều tra xác định xe không nằm trong dữ liệu xe vật chứng, đăng ký chủ sở hữu là Lương Quốc D. Ngày 18/3/2024, D bán lại chiếc xe máy trên với giá 25.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T1 – chủ cửa hàng cầm đồ. Giữa bị cáo và anh T1 có 01 giấy bán xe. Anh T1 giữ giấy bán xe và đăng ký xe máy. Tuy nhiên, bị cáo D vẫn muốn sử dụng chiếc xe máy nên đã hỏi thuê lại xe máy của anh T1 với giá thuê 62.500 đồng/ngày (có lập hợp đồng thuê xe). Anh T1 giữ đăng ký xe máy và giao xe máy cho bị cáo sử dụng. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, anh T1 không biết D sử dụng xe đó để đi cướp giật tài sản. Anh T1 đề nghị được trả lại chiếc xe trên. Xét yêu cầu của anh T1 là hợp pháp nên chấp nhận.
[7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Lương Quốc D phạm tội “Cướp giật tài sản”
- Xử phạt Lương Quốc D 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023.
- Xử lý vật chứng: Trao trả cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng, biển kiểm soát 15B3 - 094.45 đã qua sử dụng, số khung: RLHKF2518GY046871, số máy: KF26E-0046809 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 126/2024/HSST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 126/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Quốc Duy phạm tội cướp giật tài sản
