Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ N

TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/DS-ST

Ngày: 20/12/2023

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Văn C

2. Bà Võ Thị B

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thư T

- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi D - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 474/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2023/QÐST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ

Địa chỉ trụ sở: Số A P, Phường C, Quận P, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Tô Vọng B – Chức vụ: Trưởng phòng phát triển kinh doanh Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1.

Địa chỉ: Số A Đường B, V, N, K.

Ông B vắng mặt.

* Bị đơn: Bà Đặng Thị M – sinh năm 1965

Địa chỉ: Đ, Thị trấn D, D, K.

Bà M vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N – sinh năm 1994

Địa chỉ: Đ, Thị trấn D, D, K.

Bà N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Tô Vọng B trình bày:

Bà Đặng Thị M đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 0138485501T19044 ngày 10/8/2019 cụ thể như sau: số tiền vay là 20.000.000 đồng; Thời hạn vay từ ngày 10/8/2019 đến ngày 10/8/2020; Lãi suất 12%/năm; Mục đích vay là sản xuất kinh doanh hộ gia đình; vốn và lãi trả hàng tháng thỏa thuận là mỗi tháng trả 2.000.000 đồng trong vòng 11 tháng đầu và tháng 12 trả 400.000 đồng; Vay theo hình thức tín chấp. Trong quá trình vay từ ngày 10/8/2019 cho đến nay bà M chỉ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 11.950.000 đồng (Trong đó, nợ gốc là 10.196.153 đồng và nợ lãi trong hạn là 1.753.847 đồng). Do đó, bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng đã cố gắng liên lạc nhưng bà M vẫn chưa trả được thêm cho Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền nợ vay của bà M sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 20/12/2023, bà Đặng Thị M còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền: 17.095.219 đồng. Trong đó, nợ gốc 9.803.847 đồng; nợ lãi trong hạn 646.153 đồng; nợ lãi quá hạn 6.645.219 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 21/12/2023 cho đến khi bà M trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 02/8/2019, thể hiện người bảo lãnh cho bà Đặng Thị M là bà Nguyễn Thị Quỳnh N – Sinh ngày 02/01/1994. Trường hợp bà Đặng Thị M không thực hiện việc trả nợ trên cho Ngân hàng hay trả nợ không đầy đủ thì yêu cầu Tòa án buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Quỳnh N phải trả toàn bộ số nợ vay như trên cho Ngân hàng TMCP Đ tạm tính đến ngày 20/12/2023 và tiền lãi phát sinh từ ngày 21/12/2023 cho đến khi trả hết nợ,.

* Quá trình Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh thụ lý giải quyết bà Đặng Thị M và bà Nguyễn Thị Quỳnh N đã được triệu tập nhiều lần, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Sau khi Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử theo thẩm quyền thì bà M và bà N đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

* Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về dân sự. Theo hợp đồng tín dụng được ký giữa nguyên đơn và bị đơn có điều khoản quy định: Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân nơi Chi nhánh N đặt trụ sở giao dịch. Nên Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 và Điều 41 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang,tỉnh Khánh Hòa đã thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với bị đơn bà ĐặngThị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Quỳnh N. Đồng thời, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Ông Tô Vọng B – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà Đặng Thị M vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 0138485501T19044 ngày 10/8/2019 cụ thể như sau: số tiền vay là 20.000.000 đồng; Thời hạn vay từ ngày 10/8/2019 đến ngày 10/8/2020; Lãi suất 12%/năm; Mục đích vay là sản xuất kinh doanh hộ gia đình; vốn và lãi trả hàng tháng thỏa thuận là mỗi tháng trả 2.000.000 đồng trong vòng 11 tháng đầu và tháng 12 trả 400.000 đồng; Vay theo hình thức tín chấp. Trong quá trình vay từ ngày 10/8/2019 cho đến nay bà M chỉ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 11.950.000 đồng (Trong đó, nợ gốc là 10.196.153 đồng và nợ lãi trong hạn là 1.753.847 đồng). Do đó, bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng đã cố gắng liên lạc nhưng bà M vẫn chưa trả được thêm cho Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền nợ vay của bà M sang nợ quá hạn theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký. Nay ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị M phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 20/12/2023 là 17.095.219 đồng. Trong đó, nợ gốc 9.803.847 đồng; nợ lãi trong hạn 646.153 đồng; nợ lãi quá hạn 6.645.219 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 21/12/2023 cho đến khi Ngân hàng TMCP Đ thu hồi hết nợ.

Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp giữa bà Đặng Thị M và Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N không có tài sản đảm bảo nhưng theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 02/8/2019, thể hiện người bảo lãnh cho bà Đặng Thị M là bà Nguyễn Thị Quỳnh N – Sinh ngày 02/01/1994 là con ruột của bà M. Nên trường hợp bà Đặng Thị M không thực hiện việc trả nợ trên cho Ngân hàng hay trả không đầy đủ thì bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ vay như trên cho Ngân hàng TMCP Đ thay cho bà Đặng Thị M là phù hợp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với bị đơn bà Đặng Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Quỳnh N là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đặng Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cụ thể: 17.095.219 đồng x 5% = 854.761 đồng (Tám trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).

H lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 349.000 đồng (Ba trăm bốn mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về lệ phí:

Ngân hàng TMCP Đ chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 2; Điều 180; Điều 227; Điều 228 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Đ.

    Buộc bà Đặng Thị M phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ tính đến hết ngày 20/12/2023 là 17.095.219 đồng (Mười bảy triệu không trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm mười chín đồng). Trong đó, nợ gốc 9.803.847 đồng (Chín triệu tám trăm lẻ ba nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng); nợ lãi trong hạn 646.153 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm năm mươi ba đồng); nợ lãi quá hạn 6.645.219 đồng (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm mười chín đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 0138485501T19044 ngày 10/8/2019 tính từ ngày 21/12/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.

    Trường hợp bà Đặng Thị M không thực hiện việc thanh toán hay thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng TMCP Đ thì người bảo lãnh bà Nguyễn Thị Quỳnh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ trên thay cho bà Đặng Thị M.

  2. Về án phí:

    Bà Đặng Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 854.761 đồng (Tám trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).

    H lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí 349.000 đồng (Ba trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0007821 ngày 17/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

  3. Về lệ phí:

    Ngân hàng TMCP Đ chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.

    Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

  4. Quyền kháng cáo:

    Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. N
  • - Các đương sự
  • - Chi cục THADS Tp. N
  • - TAND tỉnh K
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cát Hoàng Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH K về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 126/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH K
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đông Á y/c bà Đặng Thị Mai thanh toán số nợ theo HĐ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger