Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST

Ngày: 27 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Phước
  2. Ông Dư Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hướng và bà Lê Kiều M – Kiểm sát viên

Trong các ngày 26 và ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Anh Tuấn T, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2004; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số C, đường D, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1 và bà Huỳnh Tố A; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  2. Trang Thanh V, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2004; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số A, đường M, Khóm C, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; dân tộc: Hoa; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Thanh B và bà Trương Thị H; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  3. Lý Hoàng V1, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1990; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số D, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Khmer; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý X (chết) và bà Lâm Thị T2; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  4. Trần Quốc H1, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2002; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc D và bà Nhan Thị Bích L; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  5. Trần Trọng T3, tên gọi khác: (T4 em), sinh ngày 02 tháng 12 năm 2000; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số H, đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T5 (chết) và bà Lâm Ngọc T6; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  6. Trần Trọng T7, sinh ngày 27 tháng 7 năm 2004; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số H, đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T5 (chết) và bà Lâm Ngọc T6; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  7. Ngô Thị Thu N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2003; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp D, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn B1 và bà Trần Thị L1; có chồng và 02 con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  8. Lê Thị Diễm M1, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2004; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số I, đường V, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T8 và bà Trần Thị Diễm K; chưa có chồng, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  9. Huỳnh Lê Nhật K1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2003; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số C, Khu D, KDC T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H2 và bà Lê Thị Thanh T9; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  10. Nguyễn Văn D1, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2002; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số C, đường V, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Thạch Thị Mỹ L3; có vợ và 01 con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  11. Nguyễn Đăng L4, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2005; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số D, đường L, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L5 và bà Nguyễn Thị Thúy P; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 đến ngày 11 tháng 3 năm 2023, sau đó áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ đó cho đến nay. (có mặt)
  12. Lê Thị Minh T10, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2005; nơi sinh: Sóc Trăng; nơi cư trú: số A, đường H, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: số B, đường V, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đặng Đức T11 và bà Văn Thị Ngọc X1; chưa có chồng, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 3 năm 2023 đến ngày 11 tháng 3 năm 2023, sau đó áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ đó cho đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02 tháng 3 năm 2023, Nguyễn Anh Tuấn T tổ chức tiệc sinh nhật tại quán T12, đường N, phường B, thành phố S và mời bạn bè đến tham dự. Đến cuối buổi tiệc sinh nhật chỉ còn lại T, Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Lê Thị Minh T10, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1, Nguyễn Đăng L4, Huỳnh Lê Nhật K1 và Trần Quốc H1. Lúc này, T và mọi người rủ nhau hùn mỗi người 500.000 đồng để mua ma túy và thuê phòng sử dụng ma túy thì cả nhóm đồng ý. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, cả nhóm đến Khách sạn T13, số B, đường H, khóm A, phường F, thành phố S thuê phòng để sử dụng ma túy và bay lắc. Khi đến nơi, V1 là người liên hệ quầy tiếp tân của khách sạn để thuê phòng số 201 nhưng do V1 không có giấy tờ tùy thân nên V1 lấy căn cước công dân của T để làm thủ tục thuê phòng. Khi vào phòng, T nhắn tin rủ thêm Ngô Thị Thu N đến cùng hùn tiền mua ma túy và trả tiền phòng thì N đồng ý; còn V thì về nhà T7 lấy loa, đèn và máy chiếu để cho mọi người nghe nhạc. Sau khi vào phòng thì mọi người đưa trước cho T hoặc T3 số tiền 500.000 đồng để trả tiền thuê phòng và tiền mua ma túy, nếu số tiền đó còn thiếu thì mọi người sẽ hùn sau. Sau khi T7 vào phòng, T7 lấy ra một bịch nylon chứa 10 viên thuốc lắc màu cam hình tam giác, một bịch ma túy khây và một bịch ma túy có chữ C để lên bàn để cả nhóm cùng sử dụng; sau khi sử dụng ma túy xong thì cả nhóm tiếp tục nghe nhạc. Đến gần sáng thì mỗi người hùn thêm số tiền 200.000 đồng để cho T3 đặt mua thức ăn và trả tiền phòng còn thiếu. Đến khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 3 năm 2023, lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 201, Khách sạn T13, số B, đường H, khóm A, phường F, thành phố S thì phát hiện T, V1, V, T10, T3, T7, D1, N, M1, L4, K1, H1 và vật chứng. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên tủ gỗ trong phòng số 201 có một cái đĩa màu trắng có chứa một gói nylon, bên trong có một viên nén hình tam giác màu cam, một mảnh viên nén màu cam không rõ hình dạng; một gói nylon bên trong chứa chất rắn màu trắng; một gói nylon màu cam có chữ CHALI bên trong có chứa chất bột màu vàng và các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Nghi vấn các chất thu được khi bắt quả tang các đối tượng là ma túy nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong các chất thu được để trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, T, V1, V, T10, T3, T7, D1, N, M1, L4, K1, H1 khai nhận một viên nén hình tam giác màu cam, một mảnh viên nén màu cam không rõ hình dạng, một gói ny lon bên trong chứa chất rắn màu trắng và một gói nylon màu cam có chữ CHALI bên trong có chứa chất bột màu vàng mà lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện là ma túy còn lại do các đối tượng hùn tiền với nhau mua về để sử dụng, chưa sử dụng hết thì bị phát hiện bắt quả tang. Đây là số ma túy trước đó, T7 nhờ một người bạn tên D2 (không rõ họ tên và địa chỉ) ở Cần Thơ mua với số tiền 6.000.000 đồng, khi đến dự tiệc sinh nhật của T thì T7 mang theo và đưa vào phòng số 201, Khách sạn T13 để cho mọi người sử dụng; số tiền T, V1, V, T10, T3, T7, D1, N, M1, L4, K1, H1 hùn mỗi người 700.000 đồng là để trả tiền Tài đã mua ma túy, tiền thuê phòng để mọi người sử dụng ma túy và tiền mua đồ ăn sáng cho mọi người.

Tại bản kết luận giám định số 27/KLGĐMT-KTHS ngày 11 tháng 3 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu viên nén hình tam giác, màu cam và mảnh viên nén màu cam được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,5216 gam, loại MDMA; mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5728 gam, loại Ketamine và mẫu chất bột màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4798 gam, loại MDMA.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ một gói niêm phong vụ số 27/2023 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Ngô Hoàng Lâm P1, Điều tra viên Trần Văn R; một cái loa màu đen có chữ ENKOR; hai cái loa màu đỏ đen, có chữ ENKOR; một cái đèn chiếu màu trắng; một cái hộp bằng kim loại màu đen, có chữ LASER SHOW SYSTEM; một cái dĩa màu trắng; ba cái hộp quẹt gas đã qua sử dụng; một cái thẻ nhựa màu vàng; một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn; một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0339.408.383, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTTT”; một điện thoại di động màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0358.656.864, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTQH”; một điện thoại di động màu trắng, có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0706.407.957, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTV”; một điện thoại di động màu vàng, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0947.775.765, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT”; một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0704.898.383, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTMT”; một điện thoại di động màu tím, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0782.994.292, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT1”; một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0848.681.348, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTN”; một điện thoại di động màu đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0359.115.831, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTNK”; một điện thoại di động màu tím có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0987.381.038, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTV”; một điện thoại di động màu vàng đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bị bể mặt sau, bên trong có sim số 0941.769.252, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTD”; một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng đen bạc, biển số 83P3-992.33; một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển số 83P4-404.41; một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 83P4-466.06; một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu bạc đen, biển số 83P4-099.47; một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, biển số 83P4-236.89 và số tiền 7.800.000 đồng. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh làm rõ và giao trả cho bà Lê Thị Thanh T9 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 83P4-466.06; giao trả cho bà Nhan Thị Bích L6 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu bạc đen, biển số 83P4-099.47 và giao trả cho bà Đỗ Thị Kim Y xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng đen bạc, biển số 83P3-992.33.

Cáo trạng số 116/CT-VKS-TPST ngày 04/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Lê Thị Minh T10, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1, Nguyễn Đăng L4, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N và Trần Quốc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Lê Thị Minh T10, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1, Nguyễn Đăng L4, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N và Trần Quốc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T; đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Áp dụng tại điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N và Trần Quốc H1; đề nghị xử phạt:

Bị cáo Trang Thanh V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trang Thanh V phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Lý Hoàng V1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lý Hoàng V1 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Trần Quốc H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Quốc H1 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Trần Trọng T3 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Trọng T3 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Trần Trọng T7 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Trọng T7 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Ngô Thị Thu N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Thị Thu N phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Lê Thị Diễm M1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thị Diễm M1 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Văn D1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn D1 phải chấp hành chung cả hai tội từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 55, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10; đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Đăng L4 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Đăng L4 phải chấp hành chung cả hai tội từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Lê Thị Minh T10 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thị Minh T10 phải chấp hành chung cả hai tội từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Riêng đối với với người mua ma túy tên D2, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị Mộng N1 là chủ khách sạn T13 không biết các bị cáo thuê phòng để sử dụng ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: một gói niêm phong vụ số 27/2023 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Ngô Hoàng Lâm P1, Điều tra viên Trần Văn R; một cái hộp bằng kim loại màu đen, có chữ LASER SHOW SYSTEM; một cái dĩa màu trắng; ba cái hộp quẹt gas đã qua sử dụng; một cái thẻ nhựa màu vàng.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) cái loa màu đen có chữ ENKOR; hai cái loa màu đỏ đen, có chữ ENKOR; 01 (một) cái đèn chiếu màu trắng; (01) một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và tiền Việt Nam 7.800.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Trần Trọng T7: 01 (một)t điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0339.408.383; trả cho bị cáo Trần Quốc H1: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0358.656.864; trả cho bị cáo Trang Thanh V: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0706.407.957; trả cho bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T: 01 (một) điện thoại di động màu vàng, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0947.775.765 và một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển số 83P4-404.41; trả cho bị cáo Lê Thị Minh T10: 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0704.898.383; trả cho bị cáo Trần Trọng T3: 01 (một) điện thoại di động màu tím, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0782.994.292; trả cho bị cáo Ngô Thị Thu N: 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0848.681.348; trả cho bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0359.115.831; trả cho bị cáo Lý Hoàng V1: 01 (một) điện thoại di động màu tím có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0987.381.038 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, biển số 83P4-236.89; trả cho bị cáo Nguyễn Văn D1: 01 (một) điện thoại di động màu vàng đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bị bể mặt sau, bên trong có sim số 0941.769.252.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo có thái độ thành khẩn, khai báo; không có tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát và các bị cáo nói lời sau cùng đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[2] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Trang Thanh V, Lý Hoàng V1, Trần Quốc H1, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Ngô Thị Thu N, Lê Thị Diễm M1, Huỳnh Lê Nhật K1, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như phần nội dung vụ án đã nêu. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Như vậy, có đủ căn cứ để xác định các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Trang Thanh V, Lý Hoàng V1, Trần Quốc H1, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Ngô Thị Thu N, Lê Thị Diễm M1, Huỳnh Lê Nhật K1, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10: vào khoảng gần 23 giờ, ngày 02 tháng 03 năm 2023, có hành vi hùn tiền với nhau để mua ma túy và thuê phòng số 201, khách sạn T13, số B, đường H, Khóm A, Phường F, thành phố S, để cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 3 năm 2023, khi các bị cáo đang ở trong phòng thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Lực lượng chức năng kiểm tra và thu giữ lượng ma túy còn lại các bị cáo chưa sử dụng. Theo Kết luận giám định xác định lượng ma túy mà lực lượng chức năng thu giữ khi bắt quả tang của các bị cáo gồm: 2,0014 gam, loại MDMA và 1,5728 gam, loại Ketamine. Như vậy, các hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, gián tiếp gây ảnh hưởng về sức khỏe, tâm thần của người khác và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện. Cho nên, cần phải xử nghiêm đối với các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và gia đình.

[5] Vụ án, có nhiều bị cáo tham gia, nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó: bị cáo T là người khởi xướng; bị cáo T7 là người chuẩn bị ma túy; bị cáo V1 là người trực tiếp thuê phòng để sử dụng ma túy; bị cáo V là người đi lấy loa, đèn; các bị cáo còn lại hùn tiền để mua ma túy và tiền thuê phòng để sử dụng ma túy.

[6] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:

[6.1] Bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T: về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì theo Cáo trạng và Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T là xúi giục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội. Thấy rằng: tại phiên tòa bị cáo T trình bày khi gần đến cuối buổi tiệc, bị cáo có đứng lên và nói có ai sử dụng ma túy không thì đi, mỗi người sẽ hùn trước 500.000 đồng để mua ma túy và trả tiền thuê phòng, mọi người đang ngồi trong bàn tiệc nghe rồi đồng ý đi trong đó có bị cáo T10, L4. Các bị cáo khác thừa nhận lời trình bày của bị cáo T. Như vậy, bị cáo T không có xúi giục bị cáo L4, T10 hùn tiền để mua ma túy và trả tiền thuê phòng sử dụng ma túy. Do đó, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự theo như Cáo trạng và Kiểm sát viên đã đề nghị; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần phải giảm một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu. Tuy nhiên, bị cáo T là người khởi xướng, xét thấy áp dụng mức hình phạt trong mức mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6.2] Bị cáo Trần Trọng T7: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần phải giảm một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo T7 là người mua ma túy của người tên D2 từ Cần Thơ về để cho các bị các khác sử dụng. Cho nên, áp dụng mức hình phạt trong mức mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6.3] Bị cáo Trang Thanh V: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự, là dân tộc Hoa đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cho nên, cần phải giảm một phần hình phạt cho bị cáo và thấy rằng, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6.4] Các bị cáo Trần Quốc H1, Trần Trọng T3, Huỳnh Lê Nhật K1, Nguyễn Văn D1: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cho nên, cần phải giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Nhận thấy, áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo thấp hơn mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6.5] Bị cáo Lý Hoàng V1: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự, là dân tộc Khmer đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cho nên, cần phải giảm một phần hình phạt cho bị cáo và việc áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6.6] Các bị cáo Ngô Thị Thu N và Lê Thị Diễm M1: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự; bị cáo N có ông nội là người có công với cách mạng; bị cáo M1 có ông ngoại là người được chủ tịch nước tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cho nên, cần phải giảm một phần hình phạt cho các bị cáo; thấy rằng, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6.7] Các bị cáo Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội các bị cáo L4, T10 chưa đủ 18 tuổi. Cho nên, khi quyết định hình phạt cần phải áp dụng các Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo L4, T10. Thấy rằng, quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo thấp hơn mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng Cáo trạng số 116/CT-VKS-TPST, ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Lê Thị Minh T10, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1,Nguyễn Đăng L4, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N và Trần Quốc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan sai cho các bị cáo. Tuy nhiên, Cáo trạng xác định bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là không có cơ sở chấp nhận như phân tích tại mục [6.1].

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với các vật chứng: 01 (một) gói niêm phong vụ số 27/2023 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Ngô Hoàng Lâm P1, Điều tra viên Trần Văn R; 01 (một) cái dĩa màu trắng; 03 (ba) cái hộp quẹt gas đã qua sử dụng; 01 (một) cái thẻ nhựa màu vàng và 01 (một) cái hộp bằng kim loại màu đen, có chữ LASER SHOW SYSTEM. Xét thấy, đây là hàng cấm, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[8.2] Đối với các vật chứng: 02 (hai) cái loa màu đỏ đen, có chữ ENKOR; 01 (một) cái đèn chiếu màu trắng; (01) một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và tiền Việt Nam 7.800.000 đồng của bị cáo Trần Trọng T3. Xét thấy, đây vật chứng dùng trong phạm tội, còn giá giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[8.3] Đối với các vật chứng: (01) một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0339.408.383, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTTT” của bị cáo Trần Trọng T7; (01) một điện thoại di động màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0358.656.864, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTQH” của bị cáo Trần Quốc H1; (01) một điện thoại di động màu trắng, có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0706.407.957, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTV” của bị cáo Trang Thanh V; (01) một điện thoại di động màu vàng, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0947.775.765, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT” và (01) một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển số 83P4-404.41 của bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T; (01) một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0704.898.383, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTMT” của bị cáo Lê Thị Minh T10; một điện thoại di động màu tím, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0782.994.292, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT1”; (01) một điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0848.681.348, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTN” của bị cáo Ngô Thị Thu N; (01) một điện thoại di động màu đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0359.115.831, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTNK” của bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1; (01) một điện thoại di động màu tím có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0987.381.038, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTV” và (01) một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, biển số 83P4-236.89 của bị cáo Lý Hoàng V1; (01) một điện thoại di động màu vàng đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bị bể mặt sau, bên trong có sim số 0941.769.252, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTD” của bị cáo Nguyễn Văn D1. Xét thấy, các vật chứng này là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần phải trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

[10] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, đối với việc Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T và mức hình phạt đối với các bị cáo Lý Hoàng V1, Trần Trọng T3, Trang Thanh V, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N, Trần Quốc H1, Lê Thị Diễm M1, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10 là chưa đủ cơ sở chấp nhận như vừa phân tích tại mục [6.1], [6.3], [6.4], [6.5], [6.6] và mục [6.7].

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Lý Hoàng V1, Trang Thanh V, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Nguyễn Văn D1, Lê Thị Diễm M1, Huỳnh Lê Nhật K1, Ngô Thị Thu N và Trần Quốc H1.

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên bố:

các bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T, Trang Thanh V, Lý Hoàng V1, Trần Quốc H1, Trần Trọng T3, Trần Trọng T7, Ngô Thị Thu N, Lê Thị Diễm M1, Huỳnh Lê Nhật K1, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Đăng L4 và Lê Thị Minh T10 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T phải chấp hành chung cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Trọng T7: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Trọng T7 phải chấp hành chung cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  3. Xử phạt bị cáo Lý Hoàng V1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lý Hoàng V1 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  4. Xử phạt bị cáo Trần Quốc H1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Quốc H1 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  5. Xử phạt bị cáo Trần Trọng T3: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Trọng T3 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  6. Xử phạt bị cáo Trang Thanh V: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trang Thanh V phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  7. Xử phạt bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn D1 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  9. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu N: 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Thị Thu N phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  10. Xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm M1: 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thị Diễm M1 phải chấp hành chung cả hai tội 03 (ba) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 03 tháng 03 năm 2023.
  11. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng L4: 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Đăng L4 phải chấp hành chung cả hai tội 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án hoặc ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian bị tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 11/3/2023.
  12. Xử phạt bị cáo Lê Thị Minh T10: 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thị Minh T10 phải chấp hành chung cả hai tội 02 (hai) năm 03 (ba0 tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án hoặc ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian bị tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 11/3/2023.

13. Về xử lý vật chứng:

13.1 Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong vụ số 27/2023 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Ngô Hoàng Lâm P1, Điều tra viên Trần Văn R; 01 (một) cái dĩa màu trắng; 03 (ba) cái hộp quẹt gas đã qua sử dụng; 01 (một) cái thẻ nhựa màu vàng và 01 (một) cái hộp bằng kim loại màu đen, có chữ LASER SHOW SYSTEM.

13.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) cái loa màu đen có chữ ENKOR; 02 (hai) cái loa màu đỏ đen, có chữ ENKOR; một cái đèn chiếu màu trắng; (01) một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và tiền Việt Nam 7.800.000 đồng.

13.3 Trả lại cho bị cáo Trần Trọng T7: 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0339.408.383, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTTT”; trả cho bị cáo Trần Quốc H1: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0358.656.864, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTQH”; trả cho bị cáo Trang Thanh V: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0706.407.957, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTV”; trả cho bị cáo Nguyễn Anh Tuấn T: một điện thoại di động màu vàng, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0947.775.765, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT” và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển số 83P4-404.41; trả cho bị cáo Lê Thị Minh T10: 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0704.898.383, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTMT”; trả cho bị cáo Trần Trọng T3: 01 (một) điện thoại di động màu tím, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0782.994.292, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTT1”; trả cho bị cáo Ngô Thị Thu N: 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0848.681.348, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTTN”; trả cho bị cáo Huỳnh Lê Nhật K1: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0359.115.831, đã được niêm phong ký hiệu “ĐTNK”; trả cho bị cáo Lý Hoàng V1: 01 (một) điện thoại di động màu tím có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0987.381.038, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTV” và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, biển số 83P4-236.89; trả cho bị cáo Nguyễn Văn D1: 01 (một) điện thoại di động màu vàng đen có chữ Iphone, đã qua sử dụng, bị bể mặt sau, bên trong có sim số 0941.769.252, đã được niêm phong, ký hiệu “ĐTD”.

14. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

15. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh phố Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQĐT - Công an TPST;
  • - CQTHAHS - Công an TPST;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS - TPST;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 126/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Tuấn T - Phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger