|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Thuý Lan
- Bà Hoàng Lệ Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992. Thường trú: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tạm trú: Số A khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T; sinh năm: 1992. Thường trú: Thôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tạm trú: Số A khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đức T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 27/01/2023.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ nhau, thường xuyên xảy ra cải vã, mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn, gia đình hai bên đã nhiều lần hoà giải nhưng không thể giải quyết được.
Nay bà H xác định tình cảm giữa bà và ông Nguyễn Đức T không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Như Đức K sinh ngày 23/12/2022. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hình thức niêm yết công khai và yêu cầu ông Nguyễn Đức T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Nguyễn Thị H nhưng ông Tài không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập ông T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 11/6/2024 nhưng ông T vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện ông T đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bàNguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường A và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, bà Nguyễn Thị H không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường A tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường A, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đức T. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa ông, bà thì Hội liên hiệp phụ nữ phường A không biết được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Sau khi bà H nộp đơn ly hôn, Tòa án đã triệu tập ông T đến Tòa nhiều lần nhưng ông T không đến, chứng tỏ ông T cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà H. Do vậy, việc bà H yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: Cháu K hiện dưới 36 tháng tuổi nên cần được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đương sự không trông chấp nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Đức T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt 02 lần liên tiếp không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đức T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/8/2023 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà H thì thực tế cuộc sống vợ chồng của bà và ông T có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẽ nhau, thường xuyên xảy ra cải vã. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T không đến tham gia hòa giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính ông T cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3] Về con chung: Giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đức T có 01 con chung là cháu Nguyễn Như Đức K sinh ngày 23/12/2022. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Tòa án đã triệu tập ông T để trình bày ý kiến về con chung nhưng ông T vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Xét thấy, con chung hiện nay còn rất nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần có sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Hơn nữa, hiện nay con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao con chung cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Đức T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu Tòa án giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về trông chấp ly hôn, nuôi con của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Đức T.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức T (Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/8/2023).
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Như Đức K, sinh ngày 23/12/2022 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H phải tạo điều kiện cho ông Nguyễn Đức T thăm nom con, không ai có quyền cản trở ông Nguyễn Đức T thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Đức T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004478 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Nguyễn Đức T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |
Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H- Nguyễn Đức T
