|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 126/2024/DSPT Ngày 19/8/2024 V/v tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.
Các Thẩm phán: Ông Lê Quý My và ông Hoàng Văn Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Từ ngày 14 đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2024/DSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 184/QĐPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1974;
Địa chỉ: tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D: Ông Lê Quang N - Luật sư văn phòng L2, đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt tại phiên toà).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975 (vợ ông Đ)
Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (bà L có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1973 (vợ ông D).
Địa chỉ: Số nhà D, ngõ H, Cầu Đ, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Tạm trú: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (bà H có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975 (vợ ông Đ)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Lương Văn Đ trình bày: Gia đình ông có thửa đất số 193, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.520m² tại phường T, thành phố T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/5/2020 mang tên ông Lương Văn Đ và bà Nguyễn Thị L. Nguồn gốc thửa đất gia đình ông nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng anh Phạm Ngọc L1 và chị Nông Thị V năm 1999. Thửa đất này giáp với thửa đất số 195a, tờ bản đồ số 2, diện tích 592m² của ông Nguyễn Tiến D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/10/2007 mang tên ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thu H.
Sau khi mua đất, năm 2008 gia đình ông D đã xây tường rào và cổng lấn vào phần đất của gia đình ông, mặc dù gia đình ông có nói chuyện tuy nhiên gia đình bị đơn không nghe, từ đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2021 gia đình ông có mời cán bộ địa chính tiến hành đo đạc lại đất của gia đình và xác định được vị trí đất lấn chiếm là 21,4m², do đó ông khởi kiện yêu cầu gia đình ông D tháo dỡ tường rào xây dựng và trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm, sau khi thụ lý ông xác định gia đình ông D đã xây dựng lấn chiếm sang đất của gia đình ông với 03 vị trí lấn chiếm lần lượt là 9,1m²; 22,8m² và 6,4m², do đó ông yêu cầu ông Nguyễn Tiến D trả lại tổng diện tích là 38,3m², quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 6,4 m² và xác định có trách nhiệm xây dựng tường rào bao quanh theo hiện trạng sử dụng.
Bị đơn ông Nguyễn Tiến D trình bày: Năm 2007, gia đình ông có nhận chuyển nhượng thửa đất số 298, tờ bản đồ số 2, diện tích 592m² của gia đình ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H1, sau đó được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 195a tờ bản đồ số 2, diện tích 592m² mang tên vợ chồng ông từ năm 2007. Trước và sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ranh giới đất không có tranh chấp và không có đơn từ khiếu kiện của bất kỳ ai kể cả các hộ liền kề, cùng năm 2007 gia đình ông xây bờ rào, các hộ xung quanh không ai có ý kiến gì, gia đình ông sử dụng tường rào ranh giới ổn định là 15 năm, đến năm 2021 thì ông Đ mới có ý kiến cho rằng nhà ông lấn chiếm dẫn đến tranh chấp. Thực tế, chỉ giới giữa thửa đất của gia đình ông Đ phần giáp ranh với thửa đất của gia đình ông đã được ông Đ xây dựng tường rào kiên cố trước đó, ông Đ chỉ phá bỏ phần tường rào mốc giới của gia đình ông Đ ngoài mốc giới của gia đình ông đã xây dựng, do đó ông không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì gia đình ông không xây dựng lấn chiếm đất của ông Đ.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai:
- Bà Nguyễn Thị L (vợ ông Đ) nhất trí với quan điểm của ông Đ đề nghị Tòa án buộc gia đình ông D tháo dỡ công trình trên đất, trả lại diện tích đất đã lấn chiếm.
- Bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Việc sử dụng đất của gia đình bà đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích, giáp ranh đã được xác định từ trước và sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình bà không lấn chiếm, không tranh chấp với gia đình ông Lương Văn Đ cũng như các hộ liền kề, do đó không nhất trí yêu cầu khởi kiện.
- UBND phường T cung cấp: Thửa đất số 195a được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/10/2007 mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thu H. Tại thửa đất số 195a, tờ bản đồ số 2, diện tích 592,0m² trong đó 300,0m² loại đất ở đô thị (ODT); 292,0m² đất trồng cây lâu năm (CLN), nguồn gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Gia đình ông Nguyễn Tiến D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995. Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1995 do UBND phường quản lý mương nước tiếp giáp với thửa đất số 195a có độ rộng trung bình 2,5m. Hiện trạng phần mương nước tiếp giáp thửa đất số 195a hiện nay do gia đình ông Nguyễn Tiến D đang quản lý.
- UBND thành phố T cung cấp: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tiến D năm 2007 được tiến hành kiểm tra tại thực địa. Có Biên bản kiểm tra hồ sơ hiện trạng làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được các thành phần bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng, hộ giáp ranh và UBND phường T ký xác nhận. Ngày 23/10/2007 gia đình ông D, bà H được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 592m². Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tiến D năm 2007 và ông Lương Văn Đ năm 2009 đã thực hiện theo hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên được thực hiện theo bản đồ địa chính và được đo đạc năm 1995.
Với nội dung trên tại bản án số 17/2024/DSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Áp dụng: khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157, 165, 218; khoản 2 Điều 244; Điều 266, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, 163, 164, 166, 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12, 166 và Điều 170 Luật đất đai. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Đ về việc buộc ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại diện tích 31,9m² đất lấn chiếm tại thửa số 193 tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, có hình thể vị trí 1: Theo sơ đồ 14, 15, 16, k, I, h, 14 với diện tích: 9,1m² và vị trí 2: Theo sơ đồ 11, 12, 13, 14, h, g, 11 với diện tích: 22,8m² (theo trích đo của Công ty TNHH H3 vẽ tháng 11 năm 2022).
- Buộc ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 phải tháo dỡ, di dời bức tường xây và 04 cây cau có trên diện tích 31,9m² đất lấn chiếm tại thửa số 193 tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T.
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Đ đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Tiến D phải trả lại diện tích 6,4m² đất tại thửa số 193 tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T (vị trí 3 theo sơ đồ 16, 17, 34, 35, k, 16 theo trích đo của Công ty TNHH H3 vẽ tháng 11 năm 2022). Ông Lương Văn Đ có quyền khởi kiện lại đối với diện tích đất này theo quy định pháp luật.
- Về chi phí thẩm định, định giá: Buộc ông Nguyễn Tiến D phải trả 13.789.549 đồng trừ số tiền 10.000.000 đồng đã nộp tạm ứng ngày 13/10/2022, ông D còn phải nộp số tiền 3.789.549 đồng (Ba triệu, bẩy trăm tám mươi chín nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng) trả cho ông Lương Văn Đ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/3/2024 ông Nguyễn Tiến D kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên toà phúc thẩm ông D đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn khởi kiện của ông Đ vì ông cho rằng không lấn chiếm đất của ông Đ, hai bên đã có hàng rào ranh giới từ trước.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán, chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên toà hôm nay đã làm rõ việc tranh chấp ranh giới giữa hai thửa đất số 193 của ông Đ và thửa số 195a của ông D. Hai bên đều thừa nhận ranh giới giữa hai thửa đất khi ông Đ mua của vợ chồng ông L1 vào năm 2009 thì không đo đạc cụ thể diện tích, ranh giới thửa đất 193. Khi ông Đ mua thì ông D đã mua của vợ chồng ông T từ năm 2007 và đã ở trước ông Đ, ranh giới giữa hai thửa đất có một đoạn bờ tường xây cao mấy hàng gạch, sau khi ông Đ mua thì ông Đ có xây chồng thêm một số hàng gạch cao lên khoảng hơn 01 mét. Tại phiên toà ông Đ thừa nhận năm 2009 ông Đ tự phá bỏ tường rào do ông Đ xây cho đến hiện tại chỉ còn lại bức tường xây của ông D. Thực tế hiện trạng sử dụng đất của vợ chồng ông Đ qua đo đạc là 1.765,8m². Ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 diện tích 592m². Thực tế sử dụng đất của ông D là 711,4m², cả hai ông đều sử dụng thừa diện tích. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình cũng như lời khai tại phiên toà hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của ông Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông D vẫn giữ nguyên nội dung đã kháng cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
- [1]. Ông Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông D phải trả lại diện tích 21,4m² đất lấn chiếm tại thửa số 193, tờ bản đồ số 2 tại phường T, sau khi thụ lý vụ án ông Đ xác định ông D lấn chiếm 38,3m², quá trình giải quyết vụ án ông Đ rút yêu cầu khởi kiện 6,4m². Nay ông đề nghị ông D trả lại ông 31,9m² đất mà ông D lấn chiếm. Toà án cấp sơ thẩm buộc ông D trả lại cho ông Đ 31,9m² đất. Ông D kháng cáo.
- [2]. Về quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 193 tờ bản đồ số 2 tại phường T, thành phố T được Sở TN&MT tỉnh T cấp GCNQSD ngày 18/5/2020 cho ông Lương Văn Đ và bà Nguyễn Thị L với diện tích 1.520m². Nguồn gốc vợ chồng ông Đ nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Ngọc L1 và bà Nông Thị V năm 2009. Thửa đất số 195a tờ bản đồ số 2 tại phường T, thành phố T được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/10/2007 cho vợ chồng ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thu H với diện tích 592m². Nguồn gốc ông D nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H1 năm 2007. Sự thật này đều được hai bên đương sự thừa nhận. Chỉ khác ông Đ cho rằng ông D xây tường rào có lấn sang đất nhà ông 38,3m² nhưng ông chỉ khởi kiện yêu cầu ông D trả lại ông 31,9m², còn ông D cho rằng từ khi mua của vợ chồng ông T năm 2007 đến nay vẫn nguyên xi như vậy nên ông không lấn đất của ông Đ.
- [3]. Xét kháng cáo của ông D thấy rằng: Tại phiên toà phúc thẩm hai bên đều thừa nhận ranh giới giữa hai thửa đất trước khi ông Đ mua của vợ chồng ông L1 vào năm 2009 thì không đo đạc cụ thể diện tích, ranh giới thửa đất 193. Khi ông Đ mua thì ông D cũng mua của vợ chồng ông T từ năm 2007 và đã ở trước ông Đ, ranh giới giữa hai thửa đất có một đoạn bờ tường xây cao mấy hàng gạch, sau khi ông Đ mua thì ông Đ có xây chồng thêm một số hàng gạch cao lên khoảng hơn 01 mét. Theo trích đo hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH H4 đo đạc là từ điểm 11 kéo về điểm 13 là một đoạn tường, còn ông D cho rằng cả một bức tường được nối từ điểm 11 đến điểm 13. Sau khi ông Đ xây xong tường thì ông D cũng xây luôn một bức tường sát với bức tường của ông Đ để làm ranh giới. Tại phiên toà ông Đ thừa nhận năm 2009 ông Đ tự phá bỏ tường rào do ông Đ xây cho đến hiện tại chỉ còn lại bức tường xây của ông D cùng các điểm còn lại từ điểm 13, 14, 15, 16, 17, 34, 35, 36, 37 là tường bao của thửa đất số 195a do ông D xây từ đầu năm 2008. Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ được cấp năm 2009, khi cấp không đo đạc cụ thể diện tích đất cũng như giáp ranh giữa các chủ đất liền kề đã có từ trước, chỉ thể hiện diện tích 1.520m² cấp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ trước là của vợ chồng ông L1 bán cho vợ chồng ông Đ. Thực tế hiện trạng sử dụng đất của vợ chồng ông Đ qua đo đạc là 1.765,8m², dư dôi ra 245,8m². Ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 diện tích 592m². Thực tế hiện trạng sử dụng đất của ông D qua đo đạc là 711,4m², cũng dư dôi ra 119,4m². Ông D là người mua năm 2007 có xây dựng hàng rào xung quanh thửa đất của ông D, vợ chồng ông L1 là chủ thửa đất 193 liền kề không có ý kiến gì đến năm 2009, vợ chồng ông L1 bán cho vợ chồng ông Đ, vợ chồng ông Đ ở trên thửa đất này cũng không có tranh chấp ranh giới với vợ chồng ông D, chỉ đến tháng 01/2022 ông Đ mới có đơn khởi kiện cho rằng ông D lấn chiếm đất của gia đình ông và ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D phải dỡ bỏ hàng rào để trả lại đất cho ông. Tại khoản 2 Điều 176 của Bộ luật dân sự có quy định “Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thoả thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó”. Như vậy mặc dù hai bên không có thoả thuận với nhau về ranh giới nhưng ranh giới của hai bên gia đình là hai bức tường rào sát nhau thì chứng tỏ hai bên đã lấy hàng rào xây làm ranh giới đất của hai gia đình phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 176 nêu trên. Tổng hợp các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình cũng như lời khai tại phiên toà phúc thẩm thì thấy rằng việc ông Đ khởi kiện đòi đất của ông D là không có căn cứ, do vậy cần chấp nhận kháng cáo của ông D sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của ông Đ.
- [4]. Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự tại phiên toà thì thể hiện ông D không lấn đất của ông Đ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông D bác đơn khởi kiện của ông Đ là có căn cứ.
- [5] Chi phí cho việc định giá tài sản và thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
- [6] Về án phí do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm chấp nhận kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 176 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D sửa bản án sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tuyên xử:
- 1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Đ về việc buộc ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại diện tích 31,9m² đất lấn chiếm tại thửa số 193 tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên từ điểm 11, 12, 13, 14, h, g, 11 và từ điểm 14, 15, 16, k, i, h, 14 (có bản trích đo kèm theo bản án).
- 2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lương Văn Đ phải chịu tiền chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản: 13.789.549đ (mười ba triệu, bẩy trăm tám mươi chín nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng) đã chi phí xong. Ông D đã nộp 10.000.000₫, (mười triệu đồng) chi phí tố tụng, nay ông D tự nguyện chịu số tiền này cho ông Đ và ông Đ đã nhận số tiền này của ông D nên ghi nhận sự tự nguyện của ông D.
- 3. Về án phí:
- 3.1. Về án phí sơ thẩm: Ông Lương Văn Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Đ đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0001214 ngày 24/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- 3.2. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến D không phải chịu án phí phúc thẩm được trả lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002705 ngày 09/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Lê Quý M - H | Nguyễn Văn Q |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Quế
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - TAND TP Thái Nguyên
- - Chi cục THADS TP Thái Nguyên;
- - UBND TP Thái Nguyên;
- - UBND phường Trung Thành;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa dân sự.
Bản án số 126/2024/DSPT ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 126/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Đ về việc buộc ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại diện tích 31,9m2 đất lấn chiếm tại thửa số 193 tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên từ điểm 11, 12, 13, 14, h, g, 11 và từ điểm 14, 15, 16, k, i, h, 14 (có bản trích đo kèm theo bản án).
