|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HS-PT Ngày: 19/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Ông Nguyễn Gia Lương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T- Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/TLPT-HS ngày 06/05/2024 đối với Phan Văn B do có kháng cáo của bị cáo Phan Văn B và bị hại Hoàng Văn N đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 19/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phan Văn B, sinh năm 1991; tên gọi khác: không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; con ông Phan Văn S và bà Lâm Thị L; gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ 3; bị cáo có vợ là Ngọc Thị N1, sinh năm 1993 và 03 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên toà).
* Bị hại có kháng cáo:
Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Hoàng Văn N:
Luật sư Trần Văn H - Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: số F đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
1
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Du Văn Đ, sinh năm 1990. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Lâm Thị T1, sinh năm 1994 (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Lâm Thị K, sinh năm 1987. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lăng Văn N2, sinh năm 1985. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lăng Văn H1, sinh năm 1975. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1988. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1972. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Du Văn C, sinh năm 1963. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Du Văn S1, sinh năm 1969. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Vương Văn Đ1, sinh năm 1994. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Vương Văn D, sinh năm 1994. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Tô Văn T2, sinh năm 1990. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. - Ông Phan Văn S, sinh năm 1967. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Vi Quang L1, sinh năm 2002. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Lăng Văn T3, sinh năm 1962. (Vắng mặt tại phiên tòa.)
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà Du Thị H3, sinh năm 1960. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn B, sinh năm 1991 ở thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang và anh Hoàng Văn N, sinh năm 1984 trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ xã hội quen biết nhau. Trong các ngày 10/8/2023 và ngày 15/9/2023, B đã có hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích” đối với anh N, cụ thể:
* Về hành vi “Trộm cắp tài sản”:
Khoảng tháng 5/2022, B đến ăn cỗ cưới tại nhà ông Du Văn H4, sinh năm 1969 ở cùng thôn. Tại đây, B vay của anh N số tiền 18 triệu đồng (B khai vay tiền do thua bạc). Quá trình vay, B tự nguyện giao cho anh N quản lý, sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Exciter biển kiểm soát 98B1 - 635.31 của mình làm tài sản đảm bảo cho khoản vay nhưng hai bên chỉ thoả thuận miệng, không viết giấy vay nợ. B và anh N thoả thuận: khi nào B trả hết nợ thì anh N trả lại B chiếc xe mô tô 98B1- 635.31. Sau đó, do B không có tiền trả nợ nên anh N là người quản lý, sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 635.31. Buổi sáng, ngày 10/8/2023, B đi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L1 – 9805 đến nhà anh Lăng Văn N2, sinh năm 1985, ở thôn C, xã H, huyện L thịt lợn giúp rồi ăn uống cùng mọi người tại nhà ông Lăng Văn T3 (là bố đẻ anh N2 ở cạnh nhà anh N2). Khi mọi người đang ăn uống thì anh Hoàng Văn N đi xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 635.31 đến dựng ở cổng nhà anh N2 rồi vào nhà anh N2 ngồi chơi uống nước. Sau khi ăn uống xong, B đi từ nhà ông T3 sang nhà anh N2, nói chuyện một lúc thì ra về. Khi B ra lấy xe mô tô thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 635.31 đang dựng ở cổng nhà anh N2, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá, nên đã nảy sinh ý định lấy lại chiếc xe này. Để thực hiện ý định, B điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L1 - 9805 (chiếc xe Bình đi đến trước đó) đến gửi tại anh Vi Hữu T4, sinh năm 1983, ở thôn C, xã H (cách nhà anh N2 khoảng 500m). Sau đó, B đi bộ quay lại cổng nhà anh N2, đến vị trí anh N dựng chiếc mô tô biển kiểm soát 98B1 - 635.31, mở khoá điện, nổ máy đi về nhà cất giấu. Khoảng 14 giờ cùng ngày, anh N ra về thì phát hiện mất xe. Do nghi ngờ B là người lấy xe nên buổi sáng ngày 11/8/2023, anh N đi đến nhà B hỏi nhưng B không thừa nhận việc lấy chiếc xe. Buổi chiều ngày 12/8/2023, anh N tiếp tục đến nhà B hỏi lại thì B thừa nhận đã lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 635.31 và xin anh N bỏ qua rồi hẹn đến tháng 9/2023 sẽ trả nợ cho anh N nhưng B không thực hiện.
Ngày 16/11/2023, anh Hoàng Văn N có đơn trình báo về vụ việc nêu trên.
Ngày 24/11/2023, B giao nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn: Xanh trắng, dung tích: 135cm³, số máy: 188949; số khung: 188952, biển kiểm soát 98B1- 635.31, đăng ký lần đầu ngày 31/12/2012 ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 98B1-635.31.
3
Tại Kết luận định giá tài sản số: 106/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: “Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn: Xanh trắng, dung tích: 135cm, số máy: 188949; số khung: 188952, biển kiểm soát 98B1- 635.31, đăng ký lần đầu ngày 31/12/2012; tại thời điểm tháng 8/2023 là 7.500.000 đồng (Bẩy triệu năm trăm nghìn đồng).
* Về hành vi “Cố ý gây thương tích":
Xuất phát từ khoản vay nêu trên, B hẹn anh N đến ngày 15/9/2023 sẽ trả nợ. Do chưa có đủ tiền, buổi tối ngày 14/9/2023, B gọi điện thoại xin trả trước anh N 2.000.000 đồng, nhưng anh N không đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, B đi đến quán tạp hóa của gia đình anh Du Văn Đ, sinh năm 1990 ở cùng thôn để mua bánh thì gặp anh Vương Văn Đ1, sinh năm 1994 ở cùng thôn đang ngồi uống bia cùng anh Tô Văn T2, sinh năm 1990 ở thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn và anh Hà Văn V, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã H, huyện L. Anh Đ1 mời B uống bia cùng thì B ngồi xuống uống 01 cốc rồi xin phép về trước. Sau đó, B đứng dậy cầm túi bánh ở quán tạp hóa đi qua cửa lách đến gian hàng chăm sóc tóc, da mặt của chị Lâm Thị T5, sinh năm 1994 (vợ anh Đ) để thanh toán tiền. Lúc này, B nhìn thấy anh N đi đến cửa quán chửi: “Đ.M mày có trả tiền tao không”. Nghe anh N nói vậy, anh Đ1 hỏi: “Anh chửi ai đấy” thì anh N nói: “Tao không chửi mày, không liên quan gì đến mày”, rồi hai người tiếp tục tranh cãi với nhau. Thấy vậy, B đi qua cửa lách quay lại gian hàng tạp hóa đến đứng ở phía sau lưng anh Đ1, cách vị trí anh N đứng khoảng 02m, nói với anh N: “Anh em mình nói nhẹ thôi, làm gì mà chửi địt mẹ, địt cha thế”, nhưng anh N vẫn tiếp tục lớn tiếng với B. Do bị anh N chửi bới xúc phạm, B bực tức dùng tay phải cầm chiếc vỏ chai bia bằng thuỷ tinh, màu nâu, phần thân hình trụ đường kính 6,5cm, thu nhỏ dần về phía miệng chai, nặng 0.4kg ở trên mặt bàn cạnh vị trí B đứng ném thẳng về phía anh N thì trúng vào vùng trán bên trái của anh N. Sau khi ném, B thấy vùng trán trái của anh N chảy nhiều máu nên đã dùng thuốc lào đắp cầm máu cho anh N. Sau đó, anh N được đưa đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B và Trung tâm y tế huyện L từ ngày 14/9/2023 đến ngày 25/9/2023 thì ra viện.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường, thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án, gồm: toàn bộ mảnh vỡ của chai bia thuỷ tinh ở xung quang sân vỉa hè của quán T6; 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh, màu nâu, cao 23cm, phần thân hình trụ đường kính 6,5cm, thu nhỏ dần về phía miệng chai, nặng 0,4kg.
Ngày 24/10/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành thực nghiệm điều tra về hành vi B dùng vỏ chai bia ném gây thương tích vào vùng trán trái của anh Hoàng Văn N, kết quả: Với vị trí, tư thế, động tác bị can Phan Văn B đã chỉ dẫn và thực hiện hoàn toàn phù hợp với lời khai nhận của bị can. Hành vi của bị can sử dụng vỏ chai bia bằng thuỷ tinh màu nâu, cao 23cm, phần thân hình trụ đường kính 6,5cm, thu
4
nhỏ dần về phía miệng chai, nặng 0,4kg (vỏ chai bia Hà Nội loại 450ml) như diễn lại trong quá trình thực nghiệm gây được thương tích vùng trán trái cho anh Hoàng Văn N.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 21/9/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: anh Hoàng Văn N vào viện ngày 14/9/2023, ra viện lúc 18/9/2023 do bị chấn thương sọ não, vết thương hở đầu.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1731/23/KLTTCT-TTPY ngày 05/10/2023 của Trung tâm pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: anh Hoàng Văn N bị thương tích vết sẹo vùng trán trái kích thước nhỏ + CT-Scanner: Vỡ xương trán lệch trái + Điện não đồ: Hiện tại hoạt động dạng chấn động não với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Thương tích do vật tày gây nên, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải”.
Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số: 1731B/23/KLVGTT-TTPY ngày 05/10/2023 của Trung tâm pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: Vỏ chai bia bằng thuỷ tinh, màu nâu, phần thân hình trụ đường kính 6,5cm, thu nhỏ dần về phía miệng chai, nặng 0,4kg. Vật tày. Mẫu vật gửi giám định là vật gây ra được thương tích của Hoàng Văn N”.
Tại bản kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1928/23/KLBSHS-PY ngày 11/12/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: “Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và vật gửi giám định kết luận: Việc bị can Phan Văn B sử dụng 01 (một) vỏ chai bia có đặc điểm tương tự vỏ chai bia gửi giám định ném 01(một) phát vào vùng trán trái của anh Hoàng Văn N như kết quả thực nghiệm điều tra gây được thương tích cho anh Hoàng Văn N”.
Tại cơ quan điều tra, Phan Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn Bình về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).
* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 19/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48, Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
5
Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử phạt: bị cáo Phan Văn B 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo B phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Phan Văn B phải bồi thường cho anh Hoàng Văn N tổng số tiền 69.266.000đồng (Sáu mươi chín triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 01/4/2024 bị cáo Phan Văn B kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Án sơ thẩm tuyên bị cáo 30 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” là quá nặng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án 18 tháng tù giam; về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo bị oan, đề nghị xem xét tuyên bị cáo không phạm tội.
Ngày 29/03/2024 bị hại Hoàng Văn N kháng cáo. Nội dung kháng cáo: về trách nhiệm hình sự Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo tội danh không đúng và quá nhẹ, về trách nhiệm dân sự Tòa án tuyên quá thấp so với thiệt hại thực tế. Đề nghị xét xử lại theo hướng: Tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự của bị cáo cho bị hại là 119.703.934 đồng; đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo về tội “ trộm cắp tài sản”; đề nghị chuyển tội danh bị cáo tội “ cố ý gây thương tích” sang tội “ giết người” theo Điều 123 Bộ luật hình sự.
* Ngày 26/6/2024 bị hại Hoàng Văn N nộp đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do anh và bị cáo B đã thỏa thuận được với nhau về nội dung anh kháng cáo.
* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Phan Văn B thay đổi nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo kháng cáo kêu oan về tội trộm cắp tài sản, nhưng đến nay bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” và tội “cố ý gây thương tích” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lý do bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại là anh Hoàng Văn N, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
6
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:
- - Đối với kháng cáo của anh Hoàng Văn N, trước phiên tòa anh N đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên không xem xét giải quyết.
- - Đối với kháng cáo của Phan Văn B: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn B. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 19/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Phan Văn B 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Phan Văn B 02 (H5) năm tù về tội “Cố ý gấy thương tích”.
- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo B phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- 2. Về trách nhiệm dân sự: xác nhận bị cáo Phan Văn B đã bồi thường xong cho anh Hoàng Văn N phần trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.
- 3. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo tranh luận: bị cáo không có tranh luận gì.
- Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, những trường hợp vắng mặt này đều đã có những lời khai rõ ràng tại Cơ quan điều tra, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ
7
luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án.
[3]. Xét hành vi của bị cáo Phan Văn B, HĐXX xét thấy: lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ tại cơ quan điều tra và đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét khách quan, đầy đủ, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”:
căn cứ vào lời khai của bị cáo thừa nhận từ tháng 5/2022 bị cáo đã giao chiếc xe máy này cho anh Hoàng Văn N để đảm bảo khoản vay giữa bị cáo và anh N cho đến khi nào thanh toán hết tiền vay thì sẽ lấy lại xe. Ngày 10/8/2023 tại nhà anh Lăng Văn N2, bị cáo cho rằng anh N nói xe ngoài sân ra mà lấy nên đã lấy xe về vì được anh N cho phép nhưng anh N không thừa nhận lời khai này của bị cáo. Sau khi mất xe anh N có đi tìm và lần đầu tiên sang nhà bị cáo hỏi có đi xe về không bị cáo không thừa nhận đã đi xe về nhà cất giấu. Thời điểm đó, bị cáo chưa trả tiền vay cho anh N, chiếc xe vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh N. Việc bị cáo lợi dụng sơ hở, lén lút mang chiếc xe đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh N mang về nhà cất giấu đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, như vậy đủ cơ sở để kết luận: Ngày 10/8/2023, tại cổng nhà anh Lăng Văn N2, sinh năm 1985, ở thôn C, xã H, huyện L, B có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn: xanh trắng, biển kiểm soát 98B1- 635.31, trị giá 7.500.000 đồng (Bẩy triệu năm trăm nghìn đồng) là tài sản đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh Hoàng Văn N.
Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”:
khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14/9/2023, tại quán tạp hoá nhà anh Du Văn Đ, sinh năm 1990 ở thôn C, xã H, huyện L, do mâu thuẫn cá nhân B có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là 01 vỏ chai bia bằng thuỷ tinh, màu nâu, phần thân hình trụ đường kính 6,5cm, thu nhỏ dần về phía miệng chai, nặng 0,4kg, ném gây thương tích ở vùng trán trái của anh N với tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định là 15% (Mười năm phần trăm).
Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 19/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Phan Văn B tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của anh Hoàng Văn N, HĐXX thấy:
Sau khi xét xử sơ thẩm anh N có đơn kháng cáo về trách nhiệm hình sự Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo tội danh không đúng và quá nhẹ, về trách nhiệm dân sự Tòa án tuyên quá thấp so với thiệt hại thực tế. Đề nghị xét xử lại theo hướng: tăng mức bồi thường
8
trách nhiệm dân sự của bị cáo cho bị hại là 119.703.934 đồng; đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo về tội “trộm cắp tài sản”; đề nghị chuyển tội danh bị cáo tội “ cố ý gây thương tích” sang tội “ giết người” theo Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, ngày 26/6/2024 anh Nguyễn Văn N3 đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo và trình bày giữa anh và bị cáo đã thỏa thuận được về phần trách nhiệm dân sự, anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, việc xin rút kháng cáo của anh N3 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” và kháng cáo kêu oan đối với tội danh “Trộm cắp tài sản” của bị cáo, HĐXX thấy:
[4.1].Về hành vi “ trộm cắp tài sản” tại phiên tòa bị cáo phúc thẩm bị cáo đã thay đổi nội dung kháng cáo không kêu oan chỉ xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo kêu oan của bị cáo.
[4.2]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản và xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật và gây mất trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4.3]. Xét về nhân thân, các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
- - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi “trộm cắp tài sản” bị cáo kêu oan và cho rằng mình không thực hiện hành vi phạm tội này thể hiện bị cáo chưa nhận thức được hành vi phạm tội của mình đối với tội danh này, do đó khi quyết định hình phạt về tội danh này Tòa sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đối với tội danh “Cố ý gây thương tích”, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.4.]. Án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo B Phan Văn B 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
9
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo B phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và không nặng.
Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội “trộm cắp tài sản”, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ về việc bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi trong việc . Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt về tội “trộm cắp tài sản” và tội “cố ý gây thương tích” của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Phan Văn B.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bản án sơ thẩm buộc bị cáo Phan Văn B phải bồi thường cho anh Hoàng Văn N tổng số tiền 69.266.000đ (Sáu mươi chín triệu hai tram sáu mươi sáu nghìn đồng), tại cấp phúc thẩm bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] . Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn B. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật
10
Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Phan Văn B 10 (M) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo B phải chấp hành chung cho cả hai tội là 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Phan Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hải Vinh Đặng Văn Q |
Trần Thị H6 |
11
Bản án số 126/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích
- Số bản án: 126/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Phan Văn B, sinh năm 1991; tên gọi khác: không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12; con ông Phan Văn S và bà Lâm Thị L; gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ 3; bị cáo có vợ là Ngọc Thị N1, sinh năm 1993 và 03 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên toà).
