Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 126/2024/HS.ST

Ngày 18-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Kim Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Trần Trung Nam
+ Ông Nguyễn Duy Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 9 năm 2024.

  1. Trần Văn Quyền – Tên gọi khác: Không; sinh ngày 8 tháng 3 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện tại: I N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xí A (sinh năm: 1970) và bà: Lê Thị Kim P (sinh năm: 1976) đều còn sống; vợ: Võ Thị Liên N ( sinh năm: 1991).

    Tiền án, tiền sự: Chưa;

    Nhân thân: Ngày 10/11/2020, bị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi Đánh nhau theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 220/QĐ-XPHC.

    Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/03/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên toà.

  2. Nguyễn V – Tên gọi khác: Không; sinh ngày 6 tháng 12 năm 1993 tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: 4 P, Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao Động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn D (sinh năm: 1971) và bà: Đinh Thị C (sinh năm: 1972) đều còn sống. Vợ: Lê Thị Thu H (sinh năm: 1990); có 01 người con sinh vào năm 2017.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/03/2024 đến ngày 04/04/2024 vì lý do sức khỏe của bị cáo H1 nên ngày 04/04/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Võ Thị Liên N, sinh năm: 1991

Địa chỉ: I N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Q làm nghề tài xế xe tải vận chuyển giao hàng tuyến Đà Nẵng - Quảng Trị. Từ tháng 02/2024 đến ngày bị bắt 27/3/2024, do thấy nhu cầu mua pháo nổ tăng cao nên khi chở hàng ra Quảng Trị, Q đã đến cửa khẩu L hỏi và tìm mua pháo của một người tên H2 (không rõ lai lịch) mục đích để bán lại kiếm lời. Khi thoả thuận xong về mặt giá cả thì Q thanh toán tiền mặt cho H2 và vận chuyển pháo về Đà Nẵng cất giấu tại nhà của mình chờ tiêu thụ. Để thực hiện hành vi mua bán pháo nổ, Quyền sử dụng tài khoản facebook tên “Khả Hân” tham gia vào nhóm “Hội pháo banh Đà Nẵng” và khi ai có nhu cầu mua pháo sẽ nhắn tin vào tài khoản Facebook tên “Khả Hân” để giao dịch. Sau khi thoả thuận về số lượng và giá cả với khách hàng Quyền sẽ trực tiếp hẹn giao pháo cho khách hàng và nhận tiền mặt, hoặc nếu khách chuyển khoản thì Q sẽ yêu cầu khách chuyển khoản vào tài khoản của vợ Q là số tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng TMCP N1 (V) mang tên Võ Thị Liên N. Hầu hết, Quyền đều không biết thông tin lai lịch của các khách hàng mua pháo ngoại trừ Nguyễn Viết H3. Qua trò chuyện, Q thấy H3 cũng có đam mê về pháo nổ nên đến khoảng đầu tháng 3/2024, Q đã nhờ H3 đi bán pháo cho khách hàng giúp mình. Theo đó, khi khách hàng hỏi mua pháo, Quyền sẽ hẹn điểm giao dịch rồi đem pháo đến cho H3 để H3 đi giao hoặc H3 lên nhà của Q lấy pháo để đi giao. Quá trình liên lạc, báo giá, hẹn địa điểm giao nhận pháo với khách đều do Q thực hiện, H3 chỉ đi lấy pháo và giao cho khách. Sau khi giao pháo cho khách hàng xong, tiền thu được H3 sẽ dùng số tài khoản 666000061293 tại Ngân hàng TMCP K (T) chuyển khoản vào tài khoản của vợ Q là số tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng TMCP N1 (V) mang tên Võ Thị Liên N.

Tính đến ngày bị bắt 26/3/2024, H3 đã 03 lần bán pháo giúp Quyền cụ thể:

  • Lần thứ nhất, vào ngày 16/3/2024, Quyền giao cho H3 02 hộp pháo để H3 bán cho khách (không rõ nhân thân, lai lịch) tại trước số nhà A N, Đà Nẵng và nhận tiền mặt của khách đưa với số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu, ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 17/3/2024, H3 đã chuyển số tiền 1.300.000 đồng vào tài khoản của vợ Q.
  • Lần thứ hai, vào ngày 17/3/2024, Quyền giao cho H3 03 hộp pháo để H3 bán cho khách (không rõ nhân thân, lai lịch) tại trước số nhà A N, Đà Nẵng và nhận tiền mặt của khách đưa với số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu, bày trăm nghìn đồng). Vào ngày 17/3/2024, H3 đã chuyển số tiền 1.700.000 đồng vào tài khoản của vợ Q.
  • Lần thứ ba, vào ngày 20/3/2024, Quyền giao 04 hộp pháo để H3 bán cho khách (không rõ nhân thân, lai lịch) tại trước số nhà A N, Đà Nẵng và nhận tiền mặt của khách đưa với số tiền 2.650.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Vào ngày 20/3/2024, H3 đã chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào tài khoản của vợ Q và thiếu lại 150.000 đồng (Một trăm, năm mươi nghìn đồng).

Tổng 03 (ba) lần nhờ H3 bán pháo, Q trả công cho H3 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Đến 26/3/2024, khách hàng có tài khoản facebook là “Trần Q1” (không rõ lai lịch) nhắn tin vào facebook “Khả Hân” của Q hỏi mua 08 hộp pháo. Sáng ngày 26/3/2024, vì Q đi vắng nên Quyền nhắn H3 lên nhà Q tại địa chỉ I N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng lấy 08 hộp pháo mà Q để sẵn trước nhà để đi bán cho khách. Tuy nhiên, đến chiều cùng ngày 26/3/2024, khách hàng có tài khoản facebook “Trần Q1” lại nâng số lượng pháo cần mua từ 08 hộp pháo lên 10 hộp pháo. Do đó, Q tiếp tục nhắn cho H3 đến phía trước Siêu thị Đ, đường T, thành phố Đà Nẵng sẽ có vợ Q ra giao cho H3 02 hộp pháo nữa. H3 đến phía trước Siêu thị Đ, đường T, thành phố Đà Nẵng lấy thêm 02 hộp pháo rồi mang 10 hộp pháo giao cho khách.

Trên đường đi giao pháo hoa nổ cho khách hàng có tài khoản facebook “Trần Quang”, vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, tại trước số nhà K T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Viết H3 bị bắt quả tang và bị thu giữ 10 hộp pháo hoa nổ.

Quá trình mua bán pháo hoa, Q là người đưa ra giá bán. Giá bán pháo hoa dao động từ 550.000 đồng - 650.000 đồng/01 hộp pháo hoa. Về tổng số lần, số lượng pháo nổ đã mua bán, Quyền không nhớ rõ nhưng Q xác định từ khi bán pháo đến lúc bị bắt, Q hưởng lợi được khoảng 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Tại Kết luận giám định số 656/KL - KTHS ngày 03/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “10 (mười) khối hộp (mỗi khối có kích thước 15cmx15cmx12cm, bên ngoài bọc giấy màu, in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật trụ hình tròn vỏ giấy được liên kết lại với nhau) giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 13,3 kg (Mười ba phẩy ba kilogam)".

Qua khám xét khẩn cấp tại nhà của Q ở địa chỉ I N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Qua sao kê chi tiết tài khoản 666000061293 mở tại Ngân hàng TMCP K (T) của Nguyễn Viết H3 thể hiện vào ngày 17/3/2024 và 20/3/2024, H3 có 03 lần chuyển khoản số tiền bán pháo nổ vào tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng V mang tên Võ Thị Liên N (vợ Quyền) như đã nêu trên.

Ngoài ra, H3 còn 04 lần sử dụng tài khoản 666000061293 mở tại Ngân hàng TMCP K (T) chuyển khoản vào tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng V mang tên Võ Thị Liên N (vợ Quyền). Theo H3 và Q cùng khai nhận là đây là tiền H3 cho Q mượn để khám bệnh cho vợ Quyền, cụ thể:

  • Ngày 13/3/2024: Hoàng chuyển khoản 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho Q mượn;
  • Ngày 20/3/2024: H3 chuyển khoản 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho Q mượn;
  • Ngày 23/3/2024: Hoàng chuyển khoản 1.600.000 đồng (Một triệu, sáu trăm nghìn đồng) cho Q mượn;
  • Ngày 23/3/2024: Hoàng chuyển khoản 3.050.000 đồng (Ba triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng). Riêng lần này, H3 cho Q mượn 2.900.000 đồng (Hai triệu, chín trăm nghìn đồng) còn 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền H3 nhận của khách mua pháo vào ngày 20/3/2024 mà H3 chuyển khoản thiếu cho Q.

Sao kê chi tiết tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng TMCP N1 (V) mang tên Võ Thị Liên N (của vợ Q) xác định phù hợp với các lần Nguyễn Viết H3 chuyển khoản, còn các giao dịch chuyển khoản khác nhưng Ngân hàng không xác định được nội dung giao dịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T không có cơ sở truy xét.

Qua kiểm tra thực tế tài khoản zalo tên “H3” trên điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Viết H3 và tài khoản zalo tên “Trần Q" trên địa thoại di động tạm giữ của Q thể hiện giữa H3 và Q có trao đổi với nhau về việc Quyền nhờ H3 đi bán pháo nổ cho khách hàng.

Qua yêu cầu Ngân hàng N2 (Chi nhánh Đ1) cung cấp thông tin mở tài khoản của Trần Văn Q tại các Ngân hàng xác định: Trần Văn Q không mở tài khoản tại Ngân hàng nào.

Qua trích xuất dữ liệu cuộc gọi và tin nhắn của số thuê bao 0769444096 do H3 sử dụng gắn với tài khoản zalo H3 và số thuê bao 0707327635 do Q sử dụng gắn với tài khoản zalo Trần Q tại Công ty D1 Khu vực 3 Đà Nẵng không ghi nhận thông tin gì có liên quan đến vụ án.

Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt Trần Văn Q 09 – 12 tháng tù và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đề nghị phạt tiền Nguyễn Viết H3 từ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) – 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

- Vật chứng tạm giữ: Vật chứng còn lại sau giám định là 12,6kg (mười hai phẩy sáu kilogam) pháo nổ được niêm phong trong 01 thùng cát tông, được dán tem niêm phong, trên tem niêm phong có hình dấu tròn của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký của những người có liên quan; Chuyển đến Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ quản lý theo thẩm quyền là loại hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh nên tịch thu, tiêu huỷ.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Z Fold4, màu tím đen, tên kiểu thiết bị: SM-F936B/DS, số seri: RFCW32CHC7P, Số imei (khel):351843262460635, số imei (khe 2): 352898472460634 là điện thoại của Trần Văn Q dùng để liên lạc và phục vụ cho việc thực hiện hành vi bán pháo nổ nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, Số máy: MQAV2LL/A, số seri : F17VLDBJJCL9, số imei: 359403081331616 là điện thoại của Nguyễn Viết H3 dùng để liên lạc, chuyển khoản và phục vụ cho việc thực hiện hành vi bán pháo nổ nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Air Blade, BKS: 43G1-094.96, số khung RLHJF2708BY686006, số máy: JF27E1444298, màu sơn: vàng đồng là xe máy của Nguyễn Viết H3 dùng làm phương tiện đi giao pháo nổ cho khách nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Các ngày 16/3/2024, 17/3/2024, 20/3/2024 tại trước số nhà A N, thành phố Đà Nẵng, Trần Văn Q giao cho Nguyễn Viết H3 bán 09 hộp pháo hoa nổ cho các cá nhân (không rõ nhân thân, lai lịch). Tổng số tiền bán pháo hoa nổ Trần Văn Q thu được là 5.650.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng 03 (ba) lần Quyền nhờ H3 bán pháo hoa nổ, Quyền trả công cho H3 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Ngày 26/3/2024, Trần Văn Q giao cho Nguyễn Viết H3 10 hộp pháo nổ, tổng khối lượng 13,3kg để đi bán cho một người có tài khoản facebook là "Trần Q1" (không rõ lai lịch). Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước số nhà K T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, H3 chưa bán được thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T bắt quả tang.

Về tổng số lần, số lượng pháo nổ đã mua bán, Trần Văn Q khai không nhớ rõ nhưng Q xác định từ khi bán pháo đến lúc bị bắt, Quyền thu lợi được khoảng 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Hành vi trên của Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 đã phạm vào tội " Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Như vậy Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 là những thanh niên có tuổi đời còn trẻ, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi nhưng thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo biết việc mua bán pháo nổ là mặt hàng được nhà nước nghiêm cấm mua bán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 5 Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 về quản lý, sử dụng pháo để bán lại cho người khác nhằm kiếm lời là vi phạm pháp luật và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm của nhà nước. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của từng bị cáo:

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ, không có tổ chức chặt chẽ. Trong đó, bị cáo Q là người nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại kiếm lời, trực tiếp tìm kiếm khách hàng và quyết định giá cả, còn bị cáo Q là người đi giao hàng với vai trò thứ yếu. Do đó, mức hình phạt bị cáo Q phải cao hơn bị cáo H3.

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Viết H3 thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu với vai trò thứ yếu, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo hiện nay đang là lao động chính nuôi 02 con nhỏ, trong đó có 01 con sinh năm 2017 và 01 con vừa sinh được 01 tháng 04 ngày tuổi, bản thân bị cáo H3 bị bệnh rối loạn nhịp tim nhanh theo các Phiếu khám bệnh tại Bệnh viện Đ2, kết quả siêu âm tim tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện T1 nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà khoan hồng áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có tác dụng giáo dục và tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện chữa bệnh, cũng như chăm sóc vợ mới sinh và nuôi con nhỏ.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo Trần Văn Q có nhân thân xấu, vào ngày 10/11/2020 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

-Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cả 02 bị cáo đều đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, trong đó bị cáo H3 nộp 6.000.000 đồng, bị cáo Q nộp 100.000 đồng, ngoài ra, bị cáo H3 đã có 03 lần tình nguyện hiến máu cho Bệnh viện Đ2 và bị bệnh rối loạn nhịp tim nhanh nên cả hai bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét trình bày của bị cáo Nguyễn Viết H3 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thì thấy: Việc bị cáo H3 hợp tác với cơ quan điều tra trong việc làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q là trách nhiệm của bị cáo, vì bị cáo và Q phạm tội mang tính chất đồng phạm, các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra đã được Hội đồng xét xử áp dụng là tình tiết thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của bị cáo H3.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh của 02 bị cáo là “Buôn bán hàng cấm” phù hợp quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Viết H3, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình thức phạt tiền thì thấy: Tại bút lục số 140 của hồ sơ vụ án, bị cáo Nguyễn Viết H3 có đơn xin cứu xét vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ không có việc làm ổn định, bị cáo đang nuôi con nhỏ 07 tuổi, vợ thì mang thai sắp sinh (hiện đã sinh con), cuộc sống gia đình bấp bênh. Bên cạnh đó, tại phiên toà, bị cáo trình bày bản thân bị bệnh rối loạn nhịp tim nhanh và được các Bác sĩ yêu cầu can thiệp điện sinh lý nhưng vì kinh tế khó khăn nên bị cáo chưa có điều kiện làm phẫu thuật. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy việc áp dụng hình phạt tiền cho bị cáo là không đảm bảo khả năng thi hành án và cũng chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Viết H3 giữ vai trò thứ yếu, giúp sức trong việc vận chuyển sau khi hành vi mua bán của bị cáo Trần Văn Q đã hoàn thành nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo H3. Đối với bị cáo Q là người thực hiện toàn bộ hành vi mua bán pháo hoa nổ, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi buôn bán pháo hoa nổ của bị cáo có tính chất nghiêm trọng nhưng hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo đang bị bệnh và bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính trong vụ án này là 6.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0000324 ngày 17/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 để áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Vật chứng còn lại sau giám định là 12,6kg (Mười hai phẩy sáu kilogam) pháo nổ được niêm phong trong 01 thùng cát tông, được dán tem niêm phong, trên tem niêm phong có hình dấu tròn của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký của những người có liên quan. Xét thấy đây là loại hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Z Fold4, màu tím đen, tên kiểu thiết bị: SM-F936B/DS, số seri: RFCW32CHC7P, Số imei (khel): 351843262460635, số imei (khe B): 352898472460634. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo Trần Văn Q sử dụng để liên lạc, mua, bán pháo hoa nổ nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, Số máy: MQAV2LL/A, số seri : F17VLDBJJCL9, số imei: 359403081331616. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo Nguyễn Viết H3 sử dụng để liên lạc, mua, bán pháo hoa nổ nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Air Blade, BKS: 43G1-094.96, số khung RLHJF2708BY686006, số máy: JF27E1444298, màu sơn: vàng đồng. Sau khi điều tra làm rõ đã xác định được đây là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Viết H3 và H3 đã dùng làm phương tiện đi giao pháo nổ cho khách nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Vấn đề khác:

9.1 Đối với Võ Thị Liên N là vợ của Trần Văn Q theo kết luận tại Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2024 thì N khai nhận: N là nhân viên tín dụng của Công ty T2 tại Siêu thị Đ - địa chỉ D T, Đà Nẵng. Vào chiều ngày 26/3/2024, N chuẩn bị đi làm thì Q nhờ mang 01 kiện hàng xuống giao cho khách tại chỗ làm của N ở Siêu thị Đ - địa chỉ D T, Đà Nẵng. Kiện hàng được bỏ trong bao đen dán kín và N nghĩ Quyền làm nghề giao, nhận hàng hóa nên nhận lời đem kiện hàng xuống giao mà không biết bên trong chứa pháo nổ. N xác định vì Q không sử dụng tài khoản ngân hàng nên Q có mượn tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng TMCP N1 (V) của N. Q nói với N là Quyền sử dùng tài khoản nêu trên là để nhận các khoản tiền dịch vụ từ việc chuyển phát hàng hoá mà khách hàng, công ty chuyển khoản cho Q và để Q nhận các khoản tiền mượn của bạn bè. Vì N làm nhân viên tín dụng của Công ty T2 nên hằng ngày, có rất nhiều các khoản tiền phí, tiền dịch vụ tài chính được chuyển vào tài khoản của N. Do đó, cụ thể nhận bao nhiêu tiền và nhận tiền từ tài khoản nào thì N không xác định được. Tiền trong tài khoản 0041000231918 mở tại Ngân hàng TMCP N1 (V) có khi N rút ra đưa lại Quyền, có khi sử dụng để chỉ tiêu sinh hoạt cho gia đình. Bản thân N và các bị cáo Q, H3 đều khai nhận N không biết, không liên quan đến hành vi mua bán pháo hoa nổ của Q, H3. Ngoài ra, qua xem xét các chứng cứ thu thập được, không có đủ cơ sở xác định hành vi của N có liên quan đến việc mua bán pháo nổ nên không xem xét xử lý.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 14/8/2024, Toà án nhân dân quận Thanh Khê đã có Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 12/2024/HSST –ST để yêu cầu làm rõ phương thức Trần Văn Q liên lạc với Võ Thị Liên N về việc yêu cầu N giao thêm 02 hộp pháo hoa nổ vào ngày 26/3/2024 cho Nguyễn Viết H3? Tại Công văn số 60/VKS ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã trả lời diễn biến quá trình giao nhận 02 hộp pháo hoa nổ vào ngày 26/3/2024 của Võ Thị Liên N cho Nguyễn Viết H3 đã được thể hiện rõ tại Bút lục số 318 của hồ sơ vụ án nên không tiến hành tiếp tục khai thác đấu tranh làm rõ. Vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để tiếp tục xem xét giải quyết.

9.2 Đối với người tên H2 (là người bán pháo hoa nổ cho Q), người có tên tài khoản facebook là "Trần Q1" (là người mua 10 hộp pháo nổ của Q) và các cá nhân đã mua pháo nổ với Q và H3, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
    • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 3 năm 2024.
    • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết H3 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Viết H3 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • Tịch thu tiêu huỷ 12,6kg (Mười hai phẩy sáu kilogam) pháo nổ được niêm phong trong 01 thùng cát tông, được dán tem niêm phong, trên tem niêm phong có hình dấu tròn của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký của những người có liên quan. (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 7 năm 2024).
    • Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy Z Fold4, màu tím đen, tên kiểu thiết bị: SM-F936B/DS, số seri: RFCW32CHC7P, Số imei (khel): 351843262460635, số imei (khe 2): 352898472460634 của Trần Văn Q.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, Số máy: MQAV2LL/A, số seri : F17VLDBJJCL9, số imei: 359403081331616 của Nguyễn Viết H3.
      • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Air Blade, BKS: 43G1-094.96, số khung RLHJF2708BY686006, số máy: JF27E1444298, màu sơn: vàng đồng của Nguyễn Viết H3.

      (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10 tháng 7 năm 2024)

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Trần Văn Q và Nguyễn Viết H3 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo; người TGTT;
  • Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê;
  • Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê;
  • Cơ quan thi hành án hình sự quận Thanh Khê;
  • Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê;
  • Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng;
  • Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS.ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS.ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q và Nguyễn Viết H phạm tội Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger