Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Hùng

Ông Nguyễn Văn Đông

ảng Phong - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A; Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn T; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Ngô Văn T do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 5 năm 2021. Sau khi kết hôn, chị và anh T về chung sống cùng bố, mẹ chị ở thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 6 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, mặt khác anh T mải chơi không chịu lao động, thường xuyên uống rượu, chị có góp ý nhưng anh T không tiếp thu sửa chữa mà còn đánh chửi chị vô cớ. Mâu thuẫn đã được gia đình nội, ngoại khuyên ngăn, hòa giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 6 năm 2023 đến nay, anh T đã bỏ về cư trú cùng với mẹ đẻ anh T và vợ chồng anh trai của anh T tại xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng. Từ khi anh T bỏ đi đến nay, thỉnh thoảng anh T có về nhà bố, mẹ đẻ chị nhưng chỉ về để thăm con không có mục đích để đoàn tụ vợ chồng, chị không lần nào về xã P, huyện T để chung sống cùng anh T. Từ tháng 6 năm 2023 đến nay, chị và anh T sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh Ngô Văn T có một con chung là Ngô Đan C, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2021. Từ khi anh T bỏ đi đến nay, con chung do chị nuôi dưỡng. Chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Ngô Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T để anh T đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Nguyễn Thị A xin ly hôn nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Ngô Văn T. Về con chung: Giao cho chị A nuôi dưỡng con chung Ngô Đan C, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị A có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Ngô Văn T. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Ngô Văn T hiện đang cư trú tại thôn P, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Ngô Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt chị A và anh T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Ngô Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 5 năm 2021, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Tuy anh Ngô Văn T không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh T về việc chị Nguyễn Thị A xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị A và anh Ngô Văn T đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị A và anh Ngô Văn T là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Nguyễn Thị A đối với anh Ngô Văn T.

[5] Về con chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Ngô Văn T có một con chung là Ngô Đan C, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2021. Chị A đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng, anh T không có quan điểm về con chung. Xét thấy, hiện tại chị A và anh T đều lao động tự do nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị A và anh T như nhau. Con chung hiện do chị A trực tiếp nuôi dưỡng đang ổn định. Nên để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao con chung cho chị A nuôi dưỡng.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Ngô Văn T không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[7] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Ngô Văn T không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[8] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A là nguyên đơn nên chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị A và anh Ngô Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Ngô Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung Ngô Đan C, sinh ngày 06 tháng 4 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Anh nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Ngô Văn T không có quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
  4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Ngô Văn T không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Nguyễn Thị A đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009855 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Nguyễn Thị A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THA DS huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND xã Phù Ninh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 10 tháng 5 năm 2021);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger