Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền

2. Ông Quàng Văn Tại

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị C - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Lò Văn D, sinh năm 1974; con bà: Lò Thị D1, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: (Bản án số 102/2021/HSST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 01 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 20/6/2022 bị cáo trở về địa phương sinh sống, hiện tại chưa được xóa án tích; tiên sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.

2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị T1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý có mặt bào chữa cho bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 15/3/2024, Lò Văn T một mình đi bộ từ nhà ở bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản Nà Sáy I, xã N, huyện T để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại đây T đã gặp một người đàn ông không quen biết. Qua trao đổi T đã mua của người đàn ông này 02 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu hồng với giá 300.000 đồng và 01 gói Methamphetamine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi về nhà. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày khi T đi bộ về đến khu vực bản Nà Sáy I, xã N, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T với Công an xã N kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Lò Văn T 02 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 16 giờ 05 phút ngày 15/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine có khối lượng 0,82 gam (Kí hiệu M1); mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine có khối lượng 0,75 gam (Kí hiệu M2); 12 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 1,08 gam, (Kí hiệu M3); gửi giám định toàn bộ.

Tại Bản kết luận giám định số: 574/KL-KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định (M1 và M2) thu giữ của Lò Văn T chất ma túy, loại Heroine; mẫu M3 là chất ma túy loại Methamphetamine. H lại đối tượng giám định: M1 là 0,77 gam, M2 là 0,69 gam, M3 là 0,95 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 93/CT-VKSTG ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 03 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là: M1 là 0,77 gam Heroine, M2 là 0,69 gam Heroine, M3 là 0,95 gam Methamphetamine..

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo. Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết: Về nhân thân, bị cáo khai có ông bà nội là Lò Văn H1Lò Thị C1 được nhà nước tặng thưởng Huân Chương kháng chiến hạng ba để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng mức hình phạt phù hợp theo quy định của pháp luật. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với lý do bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2017, đã từng bị xét xử một lần, không phải là người thân duy nhất trong gia đình sinh sống cùng ông bà nội, bị cáo không chứng minh được mình đã nuôi dưỡng ông bà nội nên không thuộc trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 13 giờ 15 phút, ngày 15/3/2024, tại bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã cất giấu trái phép 1,57 gam heroine và 1,08 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là 2,65 gam nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL50); kết luận giám định (BL 54); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 1,57 gam heroine và 1,08 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là 2,65 gam nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Văn T sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh Điện Biên, sử dụng ma túy từ năm 2017. Theo Bản án số 102/2021/HSST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 01 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 20/6/2022, bị cáo trở về địa phương sinh sống, hiện chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận. Tuy nhiên việc người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do ông bà nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân Chương kháng chiến ba: Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2017, đã từng bị xét xử năm 2021, bị cáo không phải là người thân duy nhất sống cùng ông bà nội nên không có căn cứ chứng mình đã nuôi dưỡng ông bà nội bị cáo. Hơn nữa tại biên bản xác minh lý lịch tư pháp (BL 67) không thể hiện ông bà nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và ý kiến bào chữa chưa đủ căn cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Nà Sáy 1, xã N, huyện T, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 03 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là: M1 là 0,77 gam Heroine, M2 là 0,69 gam Heroine, M3 là 0,95 gam Methamphetamine.

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. Về tội danh: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  3. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 15/3/2024

  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 03 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là: M1 là 0,77 gam Heroine, M2 là 0,69 gam Heroine, M3 là 0,95 gam Methamphetamine.
  5. (Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo hồi 16 giờ 50 phút, ngày 30 tháng 5 năm 2024)

  6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 17/6/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Công an huyện Tuần Giáo (3);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - THADS TG, THAHS;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM HỘI THẨM THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Huyền Quàng Văn Tại Lê Đình Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 13 giờ 15 phút, ngày 15/3/2024, tại bản Nà Sáy 1, xã Nà Sáy, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã cất giấu trái phép 1,57 gam heroine và 1,08 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là 2,65 gam nhằm mục đích để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger