|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2024 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1980.
- Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1977.
Cùng nơi cư trú: E, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị V trình bày: Bà V và ông T xây dựng gia đình vào năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/8/2002 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không hợp nhau và cả hai thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng để nuôi dạy con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Nay bà xin được ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.
Về con chung : Bà V và ông T có 02 con chung:
- Lê Thu T1, sinh ngày 07/8/2003
- Lê Hoàng L, sinh ngày 26/11/2005
Các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà giải quyết
Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 23 tháng 02 năm 2024 bị đơn ông Lê Quốc T trình bày: Bà V và ông T xây dựng gia đình vào năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/8/2002 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bà Hoàng Thị V xin ly hôn ông T không đồng ý, vì lý do trong công việc làm ăn do thua lỗ nên vợ chồng hay cãi vã tiền bạc, nhiều lần ông có xúc phạm đến vợ con, sau đó ông cũng hối hận và có nói bà V bỏ qua mọi chuyện để quay lại cuộc sống ban đầu, gia đình đầm ấm. Tuy nhiên bà V vẫn nhất quyết chuyển ra ngoài sống ly thân, không sống cùng với ông.
Về con chung: ông T và bà V có 02 con chung:
- Lê Thu T1, sinh ngày 07/8/2003.
- Lê Hoàng L, sinh ngày 26/11/2005.
Các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà giải quyết
Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nhưng đã có lời khai, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt nên bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị V.
Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét.
Tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Thânên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Hoàng Thị V xin ly hôn ông Lê Quốc T, ông T là bị đơn có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Hoàng Thị V, ông Lê Quốc T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207, Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành đưa vụ án xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông T xây dựng gia đình với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/8/2002 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000.
Bà V xin ly hôn ông T, vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được. Tại bản tự khai ngày 23/2/2024 ông T cũng xác định vợ chồng ông có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vấn đề kinh tế, hiện nay bà V đã chuyển đi nơi khác sinh sống.
Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà V và ông T có kéo dài cũng không đem đến hạnh phúc, ông bà đã sống ly thân. Mặt khác bà V cương quyết ly hôn và không muốn đoàn tụ; Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của bà V, cho bà V được ly hôn với ông T.
[3] Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Các bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Các bên khai không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Hoàng Thị V phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207, Điều 208; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 9, 51, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị V, xử cho bà V được ly hôn ông Lê Quốc T.
2. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét
3. Về tài sản chung, nợ chung : Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Hoàng Thị V phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002212 ngày 15/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà. Bà V đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo : Bà Hoàng Thị V, ông Lê Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà Võ Thị Hà Vân |
5
Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn Hoàng Thị Vân - Lê Quốc Tuấn
