Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước.

Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Tiến D, sinh ngày: 01/01/1982 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: Số A đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: Sống lang thang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị M (tại phiên tòa bị cáo khai còn sống); vợ, con: Chưa có; tiền sự: 01 lần (ngày 29/02/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000 đồng, chưa thực hiện đóng phạt); tiền án: Không; nhân thân: Ngày 18/12/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng tuyên phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 03/6/2009. Ngày 20/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 07/02/2016. Ngày 16/12/2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục với thời gian 24 tháng, đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số A, đường C, KDC L, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 09 tháng 5 năm 2024, đi ngang nhà số D, bị cáo Phan Tiến D phát hiện chiếc xe mô tô biển số 83P4-543.09 của ông Nguyễn Trọng N, có gắn sẵn chìa khóa xe, đậu bên trong cửa rào không đóng, nên bị cáo nảy sinh lấy trộm. Bị cáo D lén đi vào bên trong, sau đó dắt chiếc xe ra ngoài, rồi cho xe nổ máy điều khiển xe chạy đi đến trường Mẫu giáo 8 tháng 3, đường N, Phường A, thành phố S để nhậu. Sau khi nhậu xong, D điều khiển xe đến nhà của ông Lê Thành L, số B, đường K 30 tháng 4, Khóm F, Phường F, thành phố S, gởi cho ông L sử dụng, vì trước đó D mượn xe của ông L và sau đó đã đem đi cầm. Sau đó, ông L đã đem chiếc xe mà D lấy trộm của ông N giao nộp cho Công an. Công an mời D làm việc và D thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/KL- HĐĐG, ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S, kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Future F1, màu sơn: Bạc-Trắng-Đen, số máy: JC54E0104835, số khung RLHJC5329CY058037, biển số 83P4-543.09, có giá 6.040.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 123/CT-VKSTPST ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Phan Tiến D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo D và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Phan Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã trả lại cho cho chủ sở hữu.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Trọng N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Nguyễn Trọng N có đơn xin vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Tiến D thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại sô D, đường P, Khóm B, Phường A, thành phô S, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo D đã thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 83P4-543.09 của bị hại Nguyễn Trọng N, có giá 6.040.000 đồng.

[4] Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Future F1, màu sơn: Bạc-Trắng-Đen, số máy: JC54E0104835, số khung RLHJC5329CY058037, biển số 83P4- 543.09 trong quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.

[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Trọng N đã nhận lại chiếc xe mô tô, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Phan Tiến D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2024.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Trọng N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Tiến D phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  5. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1), bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger