Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/DS-PT

Ngày: 15-8-2023

V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung

và di sản thừa kế”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang

Các thẩm phán: ông Đặng Văn Quyết và ông Nguyễn Việt Hùng;

Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 15/8/2023, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung và di sản thừa kế” do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 125/2023/QĐ-PT ngày 25/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2023/QĐ-PT ngày 08/8/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: cụ Vũ Thị C, sinh năm 1942 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Đại diện theo ủy quyền cụ C: ông Vũ Trí C1, sinh năm 1981

Địa chỉ: số I đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (xin vắng mặt)

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cụ Vũ Thị C: Luật sư Hoàng Thị Bích L - Văn phòng L1 thuộc đoàn luật sư tỉnh B (có mặt);

Địa chỉ: số 1 đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;

*Bị đơn:

- Ông Vũ Văn O, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Người đại diện theo ủy quyền của ông O là: ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1955; Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1968 (vắng mặt) ủy quyền cho ông Vũ Văn O, sinh năm 1962 (có mặt);

Đều có địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1976;

Địa chỉ: tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

- Ông Vũ Văn Y, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Ông Vũ Văn D, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: số nhà B, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;

- Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Y, ông D, bà T2: bà Võ Thị An B, sinh năm 1982; Địa chỉ: số I đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Vũ Thị T3, sinh năm 1971 (vắng mặt)

- Chị Vũ Thị H sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Anh Vũ Văn B1 sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- UBND huyện L do ông Đào Quang D1 - Chuyên viên phòng Tài Nguyên Và Môi Trường huyện L đại diện theo ủy quyền (vắng mặt)

- UBND xã Đ, huyện L do ông Vũ Trí Q1 – Chủ tịch U (vắng mặt).

Người kháng cáo: ông Vũ Văn O và bà Vũ Thị T là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - cụ Vũ Thị C và người đại diện theo uỷ quyền của cụ C - ông Vũ Chí C2 trình bày: cụ Vũ Thị C và Cụ Vũ Văn T4 kết hôn khoảng năm 1961 (do thời gian đã lâu nên Cụ C không còn giữ Giấy đăng ký kết hôn). Cụ C và Cụ T4 có 06 người con chung là: Vũ Văn O, sinh năm 1962; Vũ Văn Y, sinh năm 1965; Vũ Thị T, sinh năm 1968; Vũ Văn D, sinh năm 1972; Vũ Thị T2, sinh năm 1973; Vũ Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra Cụ C và Cụ T4 không có người con nào khác (bao gồm cả con đẻ, con nuôi). Cụ T4 cũng không có con riêng, con ngoài giá thú nào khác.

Cụ C xác định thửa đất có diện tích 10.883m², trong đó có 400m² đất ở, 10.483m² đất vườn, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) U 947602 do UBND huyện L cấp ngày 20/6/2002 mang tên họ ông Nguyễn Văn T5. Ngày 19/01/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính trang 2 giấy chứng nhận tên Nguyễn Văn T5 sửa thành Vũ Văn T4 là tài sản chung của hộ gia đình và phân chia cho các thành viên hộ.

Cụ C đề nghị trích chia cho hai con trai: Vũ Văn Y, Vũ Văn D mỗi người 2.500m² đất vườn, vì nguồn tiền mua thửa đất trên hoàn toàn do anh Y và anh D đưa để cụ nộp tiền đất cho thôn T. Diện tích đất vườn còn lại 5.483m² và đất ở 400m² Cụ C đề nghị Tòa án phân chia cho 05 thành viên trong hộ gia đình gồm: cụ C, cụ T4, ông Y, con dâu là bà Vũ Thị T3, ông D mỗi người được một định xuất bằng 80m² đất ở và 1.096.6 m² đất vườn.

Đối với những người con còn lại gồm ông Vũ Văn O, bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị T1 tại thời điểm mua đất đã lập gia đình riêng, không nằm trong sổ hộ khẩu gia đình và không có công sức đóng góp vào việc tạo lập tài sản chung của hộ gia đình nên không được phân chia, không được hưởng quyền lợi là tài sản chung của hộ gia đình.

Di sản thừa kế của cụ T4 nằm trong tổng diện tích đất 10.883m² đất ở và đất vườn cụ C đề nghị Tòa án chia di sản theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T4 bao gồm: cụ C, ông O, ông Y, chị T, anh D, chị T2, chị T1 mỗi người được 1/7 giá trị phần di sản thừa kế do cụ T4 để lại. Cụ C đề nghị được nhận kỷ phần của mình bằng hiện vật và được giao toàn bộ đất, tài sản gắn liền với đất cho cụ để làm nơi thờ cúng tổ tiên và cụ có trách nhiệm trích chia thừa kế cho các con bằng tiền vì tất cả các con cụ đều đã có nhà đất, chỗ ở riêng ổn định ở nơi khác.

Đối với tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp bốn trên diện tích 10.883m² là của ông Y xây dựng năm 2002 để trông coi cây cối, cụ C không đề nghị phân chia.

Đối với các cây cối gắn liền trên đất gồm: 90 cây gỗ lát to, nhỏ; 312 cây nhãn; 50 cây bưởi to nhỏ là của vợ chồng ông Y, ông Dương t từ năm 2012, không phải của vợ chồng cụ C và các con khác, cụ C không đề nghị chia số tài sản này.

Nguồn gốc thửa đất 10.883 m² (trong đó 400,0 m² đất ở; 10.483 m² đất vườn) địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là do gia đình cụ C được HTX Triệu, xã Đ giao cho quyền sử dụng đất lâu dài vào năm 1997 với diện tích được giao ban đầu là 6.879m². Sau đó, đầu năm 2002 gia đình mua thêm của Ban quản lý thôn Triệu khoảng hơn 3000m2.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ông C2 đại diện theo ủy quyền của cụ C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không đề nghị Tòa án chia cho ông D, ông Y mỗi người 2.500m² đất vườn. Thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề nghị phân chia thửa đất diện tích: 10.883 m² (trong đó: 400,0 m² đất ở; 10.483 m² đất vườn) tại thôn T, xã Đ, huyện L cho 09 thành viên hộ gia đình tại thời điểm được giao đất gồm: Cụ C, ông Y, bà T3, ông D, bà T2, bà T1, ông B1, bà H. Giao cho cụ C được quản lý, sử dụng phần tài sản được chia trong khối tài sản chung và di sản thừa kế của cụ T4 bằng tiền hoặc hiện vật là đất.

Đối với các cây cối gắn liền trên đất gồm: 90 cây gỗ lát to, nhỏ; 312 cây nhãn; 50 cây bưởi to nhỏ là của ông Y trồng, cụ C không đề nghị chia số tài sản này. Trường hợp, Toà án giao cho cụ C được sử dụng thửa đất diện tích: 10.883 m² (trong đó: 400,0 m² đất ở; 10.483 m² đất vườn) tại thôn T, xã Đ, huyện L thì cụ C và ông Y sẽ thoả thuận với nhau về việc giải quyết cây cối, tài sản trên đất sau.

Đối với đất ruộng canh tác của cụ T4 theo UBND xã Đ dồn điền đổi thửa năm 2018 cụ T4 được hưởng theo định suất là 895m² tại thôn T, xã Đ, huyện L hiện ông Y đang quản lý sử dụng là di sản thừa kế, cụ C nhất trí chia theo yêu cầu của các bị đơn.

Về di sản thừa kế của cụ C được hưởng nằm trong tổng diện tích 10.883 m² đất ở, đất vườn và ruộng canh tác. Nguyên đơn đề nghị chia theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu phản tố của ông Vũ Văn O, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị T đề nghị xác định diện tích 1.088m² đất trong đó có 400m2 đất thổ cư, 688m² đất vườn tại thôn T, xã Đ, huyện L đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Vũ Văn Y năm 2002 là tài sản riêng của cụ Vũ Văn T4. Diện tích đất này cụ T4 và cụ C khai hoang năm 1960 đến năm 1989 vợ chồng cụ C đã cho ông Y. Quá trình ông Y sử dụng các con của cụ C, cụ T4 không có tranh chấp khiếu kiện gì. Năm 2002, ông Y đã được cấp GCNQSDĐ với diện tích đất này mang tên hộ ông Vũ Văn Y. Cùng năm 2002, ông Y đã xây dựng 01 nhà mái bằng 2 tầng, nhà bếp, nhà chăn nuôi, giếng nước, sân vườn và cây cối trên đất. GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình ông Y không cấp cho cá nhân cụ T4 nên không có cơ sở xác định thửa đất này là tài sản riêng của cụ T4. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông O, và T1, bà T.

Bị đơn - ông Vũ Văn O có yêu cầu phản tố và đại diện theo ủy quyền của ông O - ông Hoàng Văn Q trình bày: thửa đất thứ nhất có diện tích và thời gian cấp GCNQSDĐ như nguyên đơn trình bày là đúng. Trên thửa đất này ông Y, ông D đã trồng được 1 số cây lâm lộc và xây dựng 01 số công trình gồm: 01 nhà cấp 4 có diện tích 40,95m², 30 cây lát có đường kính 5cm, 60 cây lát đường kính 6cm đến 10cm, 06 cây bưởi đường kính 21,8cm; 29 cây bưởi có đường kính 11,4cm; 15 cây bưởi đường kính 7,9cm; 150 cây nhãn đường kính tán 3,5m; 150 cây nhãn đường kính tán 5,7m; 12 cây nhãn đường kính tán 1,6m. Ông xác định số cây này là của cụ T4, cụ C vì khoảng năm 2012 ông Y và ông D đã tự chặt toàn bộ số cây lâm lộc của cụ T4, cụ C đi để trồng các cây khác.

Thửa đất thứ hai có diện tích 1.088m² (kết quả thực đo lại ngày 18/8/2022 diện tích là 1.063,9m²) trong đó có 400m² đất ở và 663,9m² đất vườn tại tờ bản đồ không ghi số, số thửa không ghi số địa chỉ thôn T, xã Đ, huyện L đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận số 01052 QSDĐ/QĐ số 511 ngày 20/8/2002 cho hộ ông Vũ Văn Y, hiện ông Y đang quản lý sử dụng.

Về đất ruộng canh tác: Theo UBND xã Đ dồn điền đổi thửa năm 2018 thì cụ T4 được hưởng theo định suất là 895m² tại thôn T, xã Đ. Diện tích đất này ông D đang quản lý, sử dụng.

Nay ông xác nhận toàn bộ tài sản trên là tài sản riêng của cụ Vũ Văn T4. Ông đề nghị chia đều cho đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Đối với cac tài sản, cây cối ông Y xây dựng và trồng trên diện tích đất 1.088m² ông xác định đây là tài sản của cụ T4, ông yêu cầu chia thừa kế, còn các tài sản công trình, cây cối lâm lộc trên thửa đất 1.063,9m² là của vợ chồng ông Y phát triển được, ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Năm 1994 gia đình cụ T4 có mua đất của thôn T, xã Đ trong đó có sự đóng góp tiền của ông O, bà T, bà T1 chứ không phải tiền riêng của ông Y, ông D. Sau đó cụ T4, cụ C có phát triển được 1 số cây cối trên đất. Đến khoảng năm 2012 vợ chồng ông Y đã tự chặt phá để trồng 1 số cây khác gồm: 312 cây nhãn, 50 cây bưởi và 90 cây gỗ lát. Xác định diện tích đất 10.883m² đất ở, đất vườn và toàn bộ cây cối ông D trồng là di sản thừa kế của cụ T4, yêu cầu được chia thừa kế theo quy định pháp luật.

Ngoài ra diện tích đất 1.063,9m² (đã được hội đồng thẩm định đo đạc ngày 18/8/2022) đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho họ ông Y năm 2002. Nguồn gốc đất này là của bố mẹ cụ T4 chứ không phải do cụ T4 và cụ C khai hoang vỡ hóa được. Do vậy ông xác định diện tích đất này là tài sản riêng của cụ T4, năm 2018 UBND xã Đ đã dồn điền đổi thửa, cụ T4 được hưởng theo định suất ruộng canh tác là 895m2, diện tích đất này do ông Y đang quản lý sử dụng đề nghị Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

- Bà Vũ Thị T trình bày: cụ Vũ Văn T4 là bố của bà, cụ T4 chết không để lại di chúc. Nay bà nhất trí toàn bộ nội dung, yêu cầu của ông Vũ Văn O đã trình bày trong bản tự khai và tại phiên tòa. Bà đề nghị chia toàn bộ di sản thừa kế theo như ông O trình bày chia đều cho các đồng thừa kế theo pháp luật.

- Bà Vũ Thị T1 (Tức Vũ Thị T6) trình bày: Bà hoàn toàn nhất trí với nội dung và nguyện vọng yêu cầu trong bản tự khai và toàn bộ lời trình bày tại phiên tòa của ông Vũ Văn O, bà Vũ Thị Tuyết . Nay bà không chấp nhận yêu cầu của cụ C. Bà đề nghị Tòa án phân chia tài sản của cụ T4 để lại gồm: 10.883m² đất ở, đất vườn đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T4; 1.063,9m² đất ở, đất vườn đã cấp GCNQSDĐ cho hộ ông D, bà Y, đều cấp năm 2002 và 895m² đất ruộng canh tác của cụ T4 hiện ông Y đang quản lý, sử dụng đều ở thôn T, xã Đ, huyện L theo quy định của pháp luật.

Đối với phần ruộng canh tác như trong bản tự khai ngày 26/12/2021 bà có trình bày: Năm 1989 - 1990 bà có được hưởng 01 định suất ruộng canh tác khoảng 2,5 sào vào chung với bìa đỏ quyền sử dụng đất mang tên cụ Vũ Văn T4. Đến năm 2018 thực hiện dồn điền đổi thửa của UBND xã Đ, sau khi dồn điền đổi thửa diện tích đất của bà vẫn thể hiện trong giấy chứng nhận QSD đất của cụ T4, cụ C. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà có yêu cầu Tòa án buộc cụ T4 cụ C trả lại diện tích đất này cho bà, Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bà T1 xin rút yêu cầu này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: ông Vũ Văn Y, ông Vũ Văn D, bà Vũ Thị T2 đều do bà Võ Thị An B là đại diện theo ủy quyền trình bày: đề nghị Tòa án xác định thửa đất có diện tích 10.883m² là tài sản chung của hộ gia đình gồm 9 thành viên: cụ Vũ Thị C, cụ Vũ Văn T4, ông Vũ Văn Y, bà Vũ Thị T3, ông Vũ Văn D, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị T2, anh Vũ Văn B1, chị Vũ Thị H, diện tích đất này chia đều cho 9 thành viên, ông Y có 1/9 trong khối tài sản của thửa đất diện tích 10.883m² gồm đất ở, đất vườn và được chia di sản thừa kế của cụ T4. Toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất ông Y được phân chia trong vụ án này, ông Y Đồng ý nhận nhưng đề nghị Tòa án giao cho cụ C được sử dụng cùng các cây cối và tài sản của vợ chồng ông Y tạo dựng được trên thửa đất này. Nếu Tòa án giao cho cụ C được quản lý sử dụng phần tài sản của ông Y được chia, sau này cụ C và ông Y sẽ tự thỏa thuận với nhau. Về diện tích ruộng canh tác 895m² của cụ T4 đề nghị Tòa án giao cho ông Y được sử dụng, ông Y có tách nhiệm trích trả bằng tiền cho các đồng thừa kế.

Toàn bộ tài sản chung và di sản thừa kế của cụ T4 để lại là quyền sử dụng đất được chia trong vụ án này, bà T2 đồng ý nhận nhưng đề nghị Tòa án giao cho cụ C quản lý sử dụng. Đối với diện tích đất canh tác là di sản thừa kế của cụ T4 để lại mà bà T2 được chia theo kỷ phần, bà Tiếp nhận nhưng bà đề nghị giao cho ông Y được quyền sử dụng. Các tài sản trên diện tích đất 10.833m² là của vợ chồng ông Y, bà không có ý kiến gì.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm:

- Bà Vũ Thị T3 trình bày: về nguồn gốc thửa đất diện tích 10.833m² thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Năm 1997 hộ gia đình cụ T4 được HTX thôn Triệu giao cho 6.879m² sử dụng lâu dài. Đến năm 2002 hộ T4 mua thêm 3.000m2 đất bằng nguồn tiền của gia đình. Ngày 20/6/2002, UBND huyện L cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Nguyễn Văn T5, sau đó được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L đính chính trang 2 giấy chứng nhận tên Nguyễn Văn T5 sửa thành Vũ Văn T4. Đối với diện tích 10.883m², trong đó 400m² đất ở và 10.483m² đất vườn. Sau khi được cấp GCNQSDĐ, cụ T4 và cụ C ở trên đất và phát triển được một số cây cối gồm: Nhãn, bưởi và một số cây cối khác. Đến năm 2012 cụ T4 và cụ C đã chặt đi và cho vợ chồng bà trồng một số cây, cụ thể gồm: 90 cây gỗ lát to, nhỏ; 312 cây nhãn to, nhỏ; 50 cây bưởi to, nhỏ. Đến năm 2003 vợ chồng bà có xây 01 ngôi nhà ở cấp 4, chưa trát để trông nom tài sản trên đất. Diện tích đất canh tác của cụ T4, năm 2018 UBND xã Đ có dồn điền đổi thửa thì cụ T4 được quyền sử dụng theo định suất là 895m², diện tích đất này đang nằm trong tổng diện tích 4.718,9m² đất trồng lúa nước của gia đình bà, hiện vợ chồng bà vẫn đang quản lý, sử dụng. Nay bà đề nghị được chia 1/9 trong khối tài sản chung của hộ gia đình, cụ thể là thửa đất có diện tích 10.883m² đất ở, đất vườn đã được cấp cho hộ cụ Vũ Văn T4 là tài sản chung của hộ gia đình vì thời điểm năm 2002 UBND huyện cấp giấy chứng nhận cho hộ cụ Vũ Văn T4 gồm có 9 thành viên: Cụ Vũ Thị C, cụ Vũ Văn T4, ông Vũ Văn Y, bà Vũ Thị T3 (vợ ông Y), ông Vũ Văn D, bà Vũ Thị T1 (tức T6), bà Vũ Thị T2, cháu Vũ Văn B1, cháu Vũ Thị H. Toàn bộ tài sản chung mà bà được chia cùng các tài sản và cây lâm lộc trên thửa đất 10.883m² mà vợ chồng bà phát triển được. Bà đồng ý nhận nhưng đề nghị Tòa án giao cho cụ C sử dụng phần đất bà được chia và các tài sản vợ chồng bà phát triển được trên đất. Sau này mẹ con bà sẽ tự thỏa thuận giải quyết với nhau.

Về diện tích đất canh tác 895m² của ông T4 hiện nay vợ chồng bà đang quản lý, sử dụng, bà đề nghị được tiếp tục sử dụng, vợ chồng bà có trách nhiệm trích trả các kỷ phần được chia thừa kế của ông T4 bằng tiền.

Đối với yêu cầu phản tố của ông Vũ Văn O, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị T có đề nghị Tòa án xác nhận diện tích 1.088m² trong đó có 400m² đất ở và 688m² đất vườn đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho gia đình bà năm 2002 (thực đo lại ngày 18/8/2022 là 1.063,9m² đất ở và đất vườn) theo hội đồng định giá huyện và các tài sản cây cối vợ chồng bà phát triển trên diện tích đất 10.883m² gồm đất ở, đất vườn là tài sản của ông T4 yêu cầu được phân chia thừa kế theo pháp luật, bà không nhất trí vì: Bà xác định thửa đất này của hộ gia đình bà gồm: Vũ Văn Y, Vũ Thị T3, cháu Vũ Văn B1, cháu Vũ Thị H đã được gia đình bà trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, riêng biệt, diện tích đất này từ trước những năm 1990, nguồn gốc là của bố, mẹ bà là cụ T4, cụ C khai hoang vỡ hóa từ năm 1960, đến năm 1990 thì cho vợ chồng bà. Hộ gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.063,9m² bao gồm: 663,9m² đất vườn và 400m² đất ở mang tên hộ ông Vũ Văn Y. Năm 2002, chồng bà đi làm ăn xa về có kinh tế nên đã xây dựng ngôi nhà mái bằng 2 tầng và các công trình phụ, nhà bếp, nhà chăn nuôi, giếng nước, sân, cùng cây cối trên đất gồm: 30 cây nhãn, 1 cây mít và 1 cây gỗ lát, bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Chị Vũ Thị H và anh Vũ Văn B1 thống nhất trình bày: về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất diện tích 10.883m², trong đó 400m2 đất ở và 10.483m² đất vườn địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Vũ Văn T4 năm 2002 mà hiện nay cụ Vũ Thị C đang đề nghị Toà án xác định là tài sản chung của hộ gia đình và phân chia cho các thành viên, chị H, anh B1 hoàn toàn nhất trí. Chị H, anh B1 xác nhận khi cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Vũ Văn T4, thời điểm đó hộ gia đình cụ T4 gồm có: Cụ Vũ Thị C, cụ Vũ Văn T4, ông Vũ Văn Y, bà Vũ Thị T3 (vợ ông Y), ông Vũ Văn D, bà Vũ Thị T1 (tức T6), bà Vũ Thị T2, anh Vũ Văn B1, chị Vũ Thị H. Chị H và anh B1 là thành viên, nay anh chị đề nghị Toà án chia cho chị và anh B1 mỗi người được hưởng 1/9 trong khối tài sản trên. Phần di sản mà chị và anh B1 được hưởng, anh chị đề nghị giao cho cụ C sử dụng.

- Ủy ban nhân dân huyện L do ông Đào Quang D1 - Cán bộ phòng Tài nguyên và môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền trình bày: nguồn gốc sử dụng đất, hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ ông Vũ Văn Y như sau: Căn cứ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của hộ ông Vũ Văn Y năm 2000 cho thấy thửa đất của hộ ông Vũ Văn Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thôn T, xã Đ, huyện L theo quyết định số 511/QĐ-UB (H) ngày 20/6/2002 có số vào số 01052, diện tích 1.088m2 trong đó đất ở 400m2, đất vườn 688m2 có nguồn gốc do ông cha để lại. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Vũ Văn Y đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- UBND xã Đ do ông Vũ Trí Q1 - Chủ tịch đại diện trình bày: căn cứ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của hộ ông Vũ Văn Y năm 2000 cho thấy thửa đất của hộ ông Vũ Văn Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thôn T, xã Đ, huyện L theo quyết định số 511/QĐ-UB (H) ngày 20/6/2002 có số vào sổ 01052, diện tích 1.088m2 trong đó đất ở 400m², đất vườn 688m² có nguồn gốc do ông cha để lại. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Vũ Văn Y đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích canh tác theo định suất của cụ Vũ Văn T4, năm 2018 sau khi địa phương dồn điền đổi thửa thì cụ T4 được sử dụng 895m² đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 29/10/2019. Hiện diện tích đất này nằm trong tổng diện tích đất của ông Vũ Văn Y, hiện ông Y vẫn đang quản lý, sử dụng. Nay xảy ra tranh chấp ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã căn cứ Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 207; Điều 209, Điều 609; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Vũ Thị C:

- Xác định quyền sử dụng diện tích: 10.883m (Trong đó: 400,0m² đất ở; 10.483m² đất vườn) tại thôn Triệu, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tổng giá trị: 1.457.817.000 đồng là tài sản chung của hộ cụ Vũ Văn T4 tại thời điểm cấp sổ năm 2002 bao gồm 9 thành viên là: Cụ Vũ Thị C, cụ Vũ Văn T4, ông Vũ Văn Y, bà Vũ Thị T3 (vợ ông Y), ông Vũ Văn D, bà Vũ Thị T1 (tức T6), bà Vũ Thị T2, anh Vũ Văn B1, chị Vũ Thị H.

- Xác định mỗi thành viên của hộ gia đình được hưởng phần tài sản chung là: diện tích 44,5m² đất ở và 1.165m² đất vườn theo giấy chứng nhận QSD đất số U 947602 tương đương số tiền là 162.060.000 đồng.

2. Xác định di sản thừa kế của cụ Vũ Văn T4 có giá trị là: 350.010.000 đồng. Mỗi đồng thừa kế được hưởng kỷ phần là 350.010.000 đồng : 7 = 50.001.429 đồng.

3. Giao cho cụ C quản lý sử dụng diện tích 10.883m² (Trong đó 400m² đất ở; 10.483m² đất vườn) đã được UBND huyện L cấp cho hộ cụ Vũ Văn T4 năm 2002 địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

4. Giao cho ông Vũ Văn Y quản lý sử dụng diện tích 895m² đất nông nghiệp nằm trong tổng diện tích 4.718,9m² đất tại Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Ông Vũ Văn O được nhận số tiền 50.001.429 đồng trong đó (nhận từ cụ C trả là 23.151.429 đồng; nhận từ ông Y trả là 26.850.000 đồng) tiền chia di sản thừa kế của cụ T4.

- Bà Vũ Thị T1 (tức T6) được nhận từ cụ C số tiền 185.211.429 đồng (tiền chia tài sản chung và di sản thừa kế) và nhận từ ông Y trả số tiền là 26.850.000 đồng.

- Bà Vũ Thị T được nhận số tiền 50.001.429 đồng trong đó (nhận từ cụ C trả là 23.151.429 đồng; nhận từ ông Y trả là 26.850.000 đồng) tiền chia di sản thừa kế của cụ T4.

5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Vũ Văn O, bà Vũ Thị t1 (tức T6), bà Vũ Thị T đề nghị xác định QSD diện tích đo lại 1.063,9m² đất (trong đó: 663,9m² đất vườn và 400m² đất ở) đã được cấp GCNQSD đất cho hộ ông Vũ Văn Y năm 2002, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là tài sản riêng của cụ T4 và yêu cầu chia thừa kế.

Ngoài ra bản án còn buộc đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng định giá và thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp, tuyên quyền kháng cáo, quyền thi hành án cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/4/2023, bị đơn ông Vũ Văn O và bà Vũ Thị T kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam để xét xử lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt.

Bị đơn ông Vũ Văn O và bà Vũ Thị T do ông O đại diện giữ nguyên kháng cáo, đề nghị HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Ông O phát biểu ý kiến tranh luận, ông O trình bày mặc dù ông kết hôn từ năm 1985 và sinh sống riêng từ năm 1992 tại nhà đất khác do HTX C3, chị T kết hôn từ năm 1991 và chuyển về nhà chồng sinh sống từ đó cho đến nay, chị T1 kết hôn năm 2000 đến năm 2011 mới chuyển khẩu về nhà chồng nhưng diện tích đất 10.883m² được cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Vũ Văn T4 có quyền sử dụng của cả bố mẹ ông và 06 người con chung nên phải chia đều cho tất cả mọi người mỗi người một phần bằng nhau trong đó có cả của ông, chị T, chị T1. Diện tích đất 1.088m² mang tên hộ ông Vũ Văn Y là của cha ông để lại nên việc cấp cho ông Y không đúng, mà cần để làm nơi thờ cúng. Vì vậy ông đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để xem xét lại vụ án đúng quy định.

Luật sư Hoàng Thị Bích L bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho cụ C trình phát biểu ý kiến tranh luận, Luật sư L ý kiến diện tích đất 10.883m² được cấp GCNQSDĐ mang tên hộ Vũ Văn T4 do gia đình ông T4 mua của HTX Triệu năm 1994 diện tích 6.879 m², đầu năm 2002 mua thêm của thôn hơn 3.000m². Thời điểm mua đất hộ gia đình cụ T4 có các thành viên gồm cụ T4, cụ C, ông Y, ông D, bà T3,, bà T2, bà T1, anh B1, chị H. Vì vậy đây là tài sản chung của 09 người trên. Cụ T4 chỉ có 01/9 quyền của diện tích đất trên và đây là di sản cụ T4 để lại để chia nên không chấp nhận ý kiến của ông O, bà T đối với diện tích đất này. Đối với diện tích đất 1.088m² mang tên hộ ông Y được cấp giấy năm 2002, khi đó cụ T4, cụ C và mọi người đều biết. Từ đó đến khu cụ T4 chết cũng như đến nay không ai tranh chấp hay có ý kiến gì nên ý kiến của ông O, bà T về diện tích đất này cụ C không đồng ý.

Đại diện theo ủy quyền của ông Y, ông D, bà T2 đồng ý với quan điểm trình bày của Luật sư L, không bổ sung gì.

Các đương sự không tranh luận gì thêm.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do, chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông O, bà T, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông O, bà T giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Miễn án phí cho ông O do là người cao tuổi. Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1].Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – ông Vũ Trí C1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Vũ Thị T3, bà Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H, anh Vũ Văn B1, đại diện UBND huyện L, đại diện UBND xã Đ, huyện L là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Đại diện theo ủy quyền của ông O là ông Hoàng Văn Q có đơn đề nghị hoãn phiên tòa vì bận giải quyết việc gia đình. HĐXX thấy đây là phiên tòa lần thứ hai, lý do ông Q đưa ra để đề nghị hoãn phiên tòa không phải lý do chính đáng, không cung cấp được căn cứ đề nghị hoãn phiên tòa, mặt khác tại phiên tòa có mặt ông O là người ủy quyền cho ông Q. HĐXX căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Xét nội dung vu án, HĐXX thấy:

[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất 10.883m² (trong đó 400m² đất ở, 10.483m² đất vườn) tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang mang tên cụ T4. Ngày 20/5/1997 hộ gia đình cụ T4 được HTX Triệu giao 6.879m² để sử dụng, năm 2002 hộ cụ T4 mua thêm 3.000m². Ngày 20/6/2002, UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ mang tên hộ ông Nguyễn Văn T5 (sau đính chính là Vũ Văn T4). Về nguồn tiền để mua diện tích đất trên thì phía nguyên đơn trình bày do mua bằng tiền của gia đình, ông O trình bày khi mua đất năm 1994 thì ông O, bà T, bà T1 có đóng góp tiền là tiền bán trâu do HTX chia cho năm 1992 và năm 1996 ông đưa cho cụ C 800.000 đồng, năm 1997, ông Đ cho cụ T4 600.000 đồng để trả tiền mua diện tích đất này, tuy nhiên ngoài lời khai thì ông O không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho ý kiến của ông. Mặt khác thời điểm năm 1994, ông O, bà T đã xây dựng gia đình và ăn ở, có hộ khẩu riêng tại diện tích đất khác. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận ý kiến trên của ông O.

[2.2]. Căn cứ hộ khẩu thời điểm năm 1997 do Công an xã Đ cung cấp thì hộ cụ T4 thời điểm này (sau khi gia đình cụ T4, cụ C mua diện tích đất tên của HTX) gồm 9 thành viên là: cụ C, cụ T4, ông Y, ông D, bà T6, bà T2, bà T3, chị H, anh B1. Do vậy giấy chứng nhận cấp diện tích đất 10.883m² cho hộ cụ T4 thời điểm năm 2002 thì các thành viên trong hộ gia đình đều được hưởng quyền lợi như nhau. Tòa án sơ thẩm đã xác định thửa đất trên là tài sản chung của hộ gia đình và chia đều cho các thành viên là có căn cứ và phù hợp.

Như vậy cụ T4 chỉ có 01/9 quyền sử dụng đối với thửa đất này, cụ thể là 10.883m² : 9 = 1.209,5 m² (trong đó có 44,4m² đất ở, còn lại là đất vườn). Đây là di sản của cụ T4 để lại để chia thừa kế trong vụ án này cho cụ C và 06 người con của cụ gồm ông Y, ông D, ông O, bà T2, bà T6, bà T mỗi người được 01/7 kỷ phần. Do diện tích đất ở chia ra làm 07 kỷ phần, mỗi kỷ phần chưa được 07m² đất ở, quá nhỏ để được xem xét cấp GCNQSDĐ diện tích đất ở nên Bản án sơ thẩm giao toàn bộ diện tích đất trên cho cụ C quản lý, sử dụng. Cụ C có nghĩa vụ trích chia giá trị kỷ phần cho các hàng thừa kế theo giá định giá là có căn cứ.

[2.3]. Đối với thửa đất 1.088m² mang tên hộ ông Vũ Văn Y: căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận thể hiện tại Đơn xin cấp GCNQSDĐ do ông Y kê khai năm 2000 thể hiện nguồn gốc do ông cha là phù hợp với lời trình bày của các đương sự. Thời điểm ông Y kê khai cấp GCNQSDĐ thì hộ cụ T4 cũng làm hồ sơ để được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 10.883m² nêu trên, cụ T4 không kê khai để cấp giấy chứng nhận thửa đất này. Từ khi ông Y được GCNQSDĐ thì cụ T4 vẫn còn sống đến năm 2015 cụ T4 chết nhưng không ai có ý kiến tranh chấp gì đối với thửa đất này cũng như việc cấp GCNQSDĐ cho ông Y. Như vậy có căn cứ khẳng định lời trình bày của ông Y, bà T3, cụ C, ông D, bà T2 xác nhận diện tích đất này đã được cụ C và cụ T4 cho vợ chồng ông Y. Vì vậy không có căn cứ xác định thửa đất trên là tài sản riêng của cụ T4 như lời trình bày của ông O, bà T và bà T1.

[2.4]. Về tài sản trên thửa đất 10.883m² là số cây bưởi, nhãn, gỗ lát, cụ C và những người liên quan về phía cụ C đều xác định là do vợ chồng ông Y, ông D tạo lập; Phía bị đơn gồm ông O, bà T, bà T1 đều trình bày toàn bộ số cây trên là của ông Y, ông D tạo lập nhưng năm 2012 ông Y, ông D đã tự chặt cây của cụ T4, cụ C để trồng cây nên xác định cây cối là tài sản riêng của cụ T4 và xác định đây là di sản của cụ T4 và đề nghị phân chia thừa kế theo pháp luật. HĐXX thấy, ngoài lời trình bày trên thì ông O, bà T, bà T1 không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của phía bị đơn là có căn cứ.

[2.5]. Đối với 895m² đất nông nghiệp nằm trong tổng diện tích 4.718,9m² đất tại Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang: các đương sự đều xác nhận là xuất ruộng của riêng cụ T4 và đề nghị chia thừa kế là có căn cứ. Do diện tích đất nông nghiệp ông Y đang trực tiếp quản lý sử dụng và thửa đất này nằm trong tổng diện tích đất nông nghiệp mà UBND xã Đ đã thực hiện dồn điền đổi thửa, để ổn định chính sách dồn điền đổi thửa nên Tòa án sơ thẩm đã giao cho ông Y quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất nông nghiệp và ông Y có trách nhiệm trích chia bằng tiền cho các đồng thừa kế khác theo trị giá đã được định giá là có căn cứ và phù hợp.

[3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Vũ Văn O và bà Vũ Thị T yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm, HĐXX thấy: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng, đủ tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành đúng, đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTDS. Ông O, bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Như vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông O và bà T.

[4]. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông O và bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[5]. Về án phí DSPT: do kháng cáo của ông O, bà T không được chấp nhận nên ông O, bà T mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT . Tuy nhiên, ông O là người cao tuổi nên được miễn án phí DSPT theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn O và bà Vũ Thị Tuyết . Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Vũ Văn O được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Bà Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT. Xác nhận bà T đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm tại Biên lai thu số 0014551 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2023/DS-PT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản chung và di sản thừa kế

  • Số bản án: 126/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung và di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Ch kiện yêu cầu chia tài sản chung và di sản thừa kế QSDĐ do bố mẹ để lại với ông O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger