Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 126/2024/HS-PT

Ngày 15-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thắm.
Ông Huỳnh Văn Luật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Á. Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo bị kháng nghị: Vũ Thị Ngọc Á, sinh năm 1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số G đường T, khu phố E, Phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số G đường T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nữ; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị Thái L, sinh năm 1953; bị cáo có chồng tên Trần Thanh P, sinh năm 1972 và 08 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền sự: Không;

Tiền án:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 349/HSST ngày 26/11/1993 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Chưa thi hành khoản nộp án phí;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 39/HSST ngày 25/08/2005 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 37 tháng 25 ngày tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HSST ngày 04/02/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2008. Chưa thi hành khoản nộp án phí đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/HSST ngày 25/08/2005;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 114/HSST ngày 23/08/2011 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 124/HSST ngày 08/07/2011 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/08/2018. Chưa thi hành khoản nộp án phí đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 114/HSST ngày 23/08/2011;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án hình sự phúc thẩm số 305/2020/HSPT ngày 23/06/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/07/2023. Chấp hành xong khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm ngày 23/07/2020;

Nhân thân:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 277/HSST ngày 26/9/1998 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/05/1999. Được xét miễn thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/9/2010;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 36/HSST ngày 10/02/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Được xét miễn thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/11/2010;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 71/HSST ngày 05/07/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/HSST ngày 10/02/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Được xét miễn thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/11/2010 đối với Bản án số 71/HSST ngày 05/07/2004;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HSST ngày 04/02/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/HSST ngày 05/07/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2008. Được xét miễn thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm và tiền sung quỹ Nhà nước ngày 18/11/2010 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HSST ngày 04/02/2005;
  • + Ngày 06/8/2010, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp vặt”, với số tiền là 200.000 đồng. Đã đóng phạt ngày 28/08/2010.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 124/HSST ngày 08/07/2011 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/08/2018. Đã thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 12/9/2011;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 cho đến nay; có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, bị cáo Vũ Thị Ngọc Á điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, biển số 59S1- 257.56 đi đến khu vực khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đến trước căn nhà số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thấy cổng nhà không khóa, chỉ khóa cửa nhà và không có người bên trong nên bị cáo nảy sinh ý định cậy cửa đột nhập vào trong nhà nhằm chiếm đoạt tài sản. Lúc này, bị cáo dừng xe, mở cốp xe lấy 01 cái kìm bằng kim loại màu xám bạc, tay cầm bọc nhựa màu xanh và dùng kìm phá khóa cửa căn nhà trên, quan sát xung quanh thấy không có ai nên bị cáo lén lút đi vào bên trong. Khi đi đến phòng ngủ, bị cáo nhìn thấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen của bị hại Lê Thị H đang để trên giường, lúc này bị cáo liền lấy chiếc điện thoại này và cầm trên tay bên trái đi ra ngoài tẩu thoát. Khi đi ra đến cửa thì Tạ Quang S (là chồng của bị hại) và Vũ Kiều H1 (là hàng xóm bị hại) đi từ ngoài cổng vào phát hiện, bắt giữ và giao cho Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý.

Theo Kết luận định giá tài sản số 173/BBĐG-HĐĐGTS ngày 05/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận về giá của tài sản: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 3.000.000 đồng.

Ngày 12/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Á về tội “Trộm cắp tài sản” và tạm giam để điều tra cho đến nay.

* Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số seri: R58T61BET4K;
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59S1-257.56, màu đỏ đen, số máy 2B56-025447, số khung RLCN2B5607Y025447;
  • + 01 (một) kìm bằng kim loại màu xám bạc, tay cầm bọc nhựa màu vàng, nhãn hiệu USA Standard.

Tại cáo trạng số: 129/CT–VKS-DA ngày 27 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Thị Ngọc Á về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

“1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Ngọc Á phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/10/2023."

Ngoài ra bản án sơ thẩm tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKS-DA ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xác định: Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á phạm tội "Trộm cắp tài sản", trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng bị cáo có 04 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" chưa được xóa án tích và có nhân thân rất xấu, đến nay lại tiếp tục phạm tôi, nên đây là điểm cốt lõi thể hiện bị cáo không hề hối cải đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình, các hình phạt trước đây đối với bị cáo là không có tác dụng răn đe. Bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Bên cạnh đó, căn cứ bản án sau cùng của bị cáo Á là Bản án sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" và Bản án phúc thẩm số 305/2020/HSPT ngày 23/06/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020, tài sản bị cáo Á chiếm đoạt trong vụ án này có tổng giá trị 4.550.000 đồng, Tòa án nhân dân Quận 12 đã áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức xử phạt như trên. Vì vậy, ngày 07/5/2024, Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tuyên phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á mức án 03 (ba) năm tù là chưa đánh giá toàn diện và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như nhân thân, thái độ nhận thức đối với hành vi phạm tội và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Vũ Thị Ngọc Á, nên xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á mức phạt 03 năm tù là chưa phù hợp, hình phạt này là quá nhẹ chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị Ngọc Á nên kháng nghị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm về tăng hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Á.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: bị cáo Vũ Thị Ngọc Á có 04 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" chưa được xóa án tích và có nhân thân rất xấu, đến nay lại tiếp tục phạm tội. Căn cứ bản án sau cùng của bị cáo Á là Bản án sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" và Bản án phúc thẩm số 305/2020/HSPT ngày 23/06/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 41/2020/HSST ngày 05/03/2020, tài sản bị cáo Á chiếm đoạt trong vụ án này có tổng giá trị 4.550.000 đồng, Tòa án nhân dân Quận 12 đã áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức xử phạt như trên. Vì vậy, ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tuyên phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á mức án 03 năm tù là không phù hợp, không đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Do đó, có cơ sở xem xét chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt tăng từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Á.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương kháng nghị bản án trong thời hạn quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Thị Ngọc Á đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, tại nhà số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 3.000.000 đồng của bị hại Lê Thị H. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á có 04 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" chưa được xóa án tích và có nhân thân rất xấu, lần gần đây nhất là ngày 05/03/2020 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự nhưng đến nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là nhẹ, chưa đánh giá toàn diện và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như nhân thân, thái độ nhận thức đối với hành vi phạm tội và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tăng hình phạt đối với bị cáo.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSDA ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Ngọc Á phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/10/2023.

3. Án phí hình sự phúc thẩm

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP (2), hồ sơ vụ án, PHT, 17.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Chum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 126/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Ngọc A phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger