|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày: 15/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân
Bà Hoàng Thị Xuân Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- NGUYỄN XUÂN N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2005 tại Hà Nội; HKTT: Tổ dân phố số A, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Số A, ngõ A Đ, tổ dân phố số A, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân K và bà Đào Thị Thúy N; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/9/2022: Công an quận N xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác; Bị cáo bị bắt quả tang, bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 13/01/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- LÊ VĂN Đ, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2005 tại Hà Nội; HKTT: Tổ dân phố số E, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Số C ngách D ngõ C, N, Tổ dân phố E, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Lê Ngọc T (đã chết) và bà Lê Thị T1 (sinh năm 1974); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 13/01/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Nguyễn Xuân N1: Ông Trịnh Sơn Đ, luật sư Văn phòng L - Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/01/2024, tại khu vực trước số B phố C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường V đang làm nhiệm vụ phát hiện Lê Văn Đ1 đang đứng cạnh một nam thanh niên điều khiển xe máy, nhãn hiệu Honda Wave, không biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Phát hiện bị kiểm tra, nam thanh niên đi xe máy liền tăng ga bỏ chạy. Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra Lê Văn Đ1 phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Đ1 02 túi nilon kích thước (5x8.5) cm chứa thảo mộc khô; thu giữ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của Đ1 02 túi nilon kích thước (5x8.5) cm chứa thảo mộc khô. Ngoài ra, còn tạm giữ của Đ1 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S màu đỏ.
Tại bản Kết luận giám định số 796/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
“- Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon đều là Cần sa, tổng khối lượng: 2,475 gam.
- Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon đều là Cần sa, tổng khối lượng: 2,723 gam.”
Tại cơ quan Công an, Lê Văn Đ1 đã khai nhận về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là của Nguyễn Xuân N1 đưa cho Đ1. Khoảng 18 giờ ngày 12/01/2024, Nguyễn Xuân N1 gọi điện thoại cho Lê Văn Đ1 nhờ giao hộ ma túy cần sa cho khách và Đ1 đồng ý. Sau đó, N1 đưa cho Đ1 04 túi ma túy cần sa và dặn Đ1 giao 02 túi ma túy cho khách để thu về số tiền 430.000 đồng, số ma túy còn lại nếu có khách hỏi mua thì N1 sẽ báo lại để Đ1 tiếp tục giao. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N1 báo cho Đ1 biết khách đang đến chỗ Đ1 để lấy ma túy. Đ1 cầm 02 túi ma túy trong lòng bàn tay phải chờ khách ở trước số B phố C, phường L, quận Đ, TP . thì bị tổ công tác Công an phường V kiểm tra, phát hiện và thu giữ số tang vật như trên.
Cơ quan công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân N1 tại số A ngõ A Đ, TDP số A, phường T, quận N, TP . phát hiện và tạm giữ 01 cân điện tử bằng kim loại màu bạc. Ngoài ra, còn tạm giữ của N1 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 ProMax, màu tím, đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 756/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:
“- 01 cân điện tử bằng kim loại màu bạc có dính Cần sa.”
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Xuân N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 18 giờ ngày 12/01/2024, N1 nhận được điện thoại của một người nam giới không quen hỏi mua 02 túi ma túy cần sa và được Nam báo giá 200.000 đồng/1 túi, tiền công ship là 30.000 đồng và thống nhất giao dịch tại trước số B phố C, phường L, quận Đ, TP . là nơi Đ1 đang làm việc. Sau khi khách mua đồng ý, N1 mang 04 túi nilon chứa ma túy cần sa đến địa chỉ trên đưa cho Lê Văn Đ1 để nhờ giao hộ cho người khách ở trên 02 túi ma túy cần sa và thu về 430.000 đồng, số ma túy còn lại nếu có khách hỏi mua thì N1 sẽ báo lại để Đ1 tiếp tục giao ma tuý cho khách. Sau khi đưa ma túy cho Đ1, N1 đi về nhà tại địa chỉ số A ngõ A Đ, TDP số A, phường T, quận N, TP . thì bị cơ quan Công an đến khám xét và mời về trụ sở Công an phường để làm việc. Về nguồn gốc số ma túy N1 đưa cho Đ1 để bán cho khách, N1 khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng trường THCS N2, phường T, quận N, TP . với giá 1.500.000 đồng vào ngày 31/12/2023. Sau khi mua được, N1 đã sử dụng một phần, số còn lại N1 mang đến đưa cho Đ1 để bán cho khách kiếm lời.
Cáo trạng số: 114/CT-VKSĐĐ ngày 17/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Lê Văn Đ1, Nguyễn Xuân N1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn Đ1, Nguyễn Xuân N1 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật trên là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác.
Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự; theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt:
- Bị cáo Lê Văn Đ1 mức án từ 24 đến 26 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo;
- Bị cáo Nguyễn Xuân N1 mức án từ 25 đến 27 tháng tù; Miền hình phạt bổ sung cho bị cáo;
Về vật chứng: - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đỏ của bị cáo Lê Văn Đ1 (Không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax có Imei: 355281434816945 của bị cáo Nguyễn Xuân N1 (Không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong);
- Tịch thu tiêu hủy ma túy.
- Người bào chữa hợp pháp cho bị cáo N1 nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin được áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu được của vụ án đã được gửi đi giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 12/01/2024, tại khu vực trước số B Chùa L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Tổ công tác Công an phường V, quận Đ, TP . đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Lê Văn Đ1 có hành vi mua bán trái phép 5,198 gam ma tuý Cần sa. Số ma túy trên là của Nguyễn Xuân N1 đưa cho Đ1 để bán cho khách với mục đích để kiếm lời.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân N1, Lê Văn Đ1 đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội truy tố các bị cáo Đ1, N1 về tội danh và điều luật trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, ma túy không chỉ làm suy kiệt kinh tế, sức lao động; hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người và là nguyên nhân nảy sinh nhiều hành vi phạm tội khác. Vụ án gây
ảnh hưởng xấu và làm mất đi tính ổn định trật tự an toàn địa phương nơi bị cáo phạm tội.
Vụ án thuộc đồng phạm giản đơn. Các bị cáo N1 và Đ1 đều chung ý chí thực hiện hành vi bán ma túy là cần sa. Đối với bị cáo N1 giữ vai trò chính tàng trữ cần sa để bán, bị cáo Đ1 là đồng phạm giúp sức thực hiện hành vi mang cần sa đi bán theo yêu cầu, do đó cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Nam cao hơn bị cáo Đ1.
Nhân thân bị cáo Nguyễn Xuân N1 đã có 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác tuy đến thời điểm xét xử đã hết thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét: Nhân thân bị cáo Lê Văn Đ1 chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo N1 có ông, bà nội được tặng H Huy chương kháng chiến. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Xét xử bị cáo Đ1 ở mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra các bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự. Xong xét các bị cáo không có việc làm không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành án, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
Đối với đối tượng mua ma túy của N1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ làm rõ để xử lý nên HĐXX không xem xét.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N1, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý nên HĐXX không xem xét.
[3]. Xử lý vật chứng:
- 2,475 gam thảo mộc khô và 2,723 gam thảo mộc khô thu giữ của các bị cáo là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đỏ thu giữ của bị cáo Lê Văn Đ1, xét bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua và bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân N1, xét bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua và bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[4]. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân N1, Lê Văn Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Nguyễn Xuân N1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Lê Văn Đ1 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.
Căn cứ: Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong dán kín trên các mép dán có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H1; chữ ký của cán bộ Công an phường H; chữ ký của đối tượng Lê Văn Đ1; chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Đồng C cùng hình dấu tròn của Công an Phường.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong dán kín trên các mép dán có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H1; chữ ký của cán bộ Công an phường H, Đỗ Quang H2; chữ ký của người chứng kiến Đào Thị Thúy N cùng hình dấu tròn của Công an Phường.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S màu đỏ (không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong) của bị cáo Lê Văn Đ1 và 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 ProMax có Imei: 355281434816945, (không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong) của bị cáo Nguyễn Xuân N1.
(Theo theo biên bản giao nhận vật chứng số 184 ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa);
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Thanh Tú |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
