Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tài Hòa, bà Lê Thị Hồng Vinh.

-Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 12/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Duy Q, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1978 và con bà Phạm Thị N, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

* Bị hại: Anh Lò Văn G, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Trú tại: Bản K, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1999 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Anh Đoàn Trắc K, sinh năm 1990 ( có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Trú tại: Thôn L, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

  7. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1981 (có mặt).
  8. Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 11/5/2024, khi Q gặp anh G điều khiển xe môtô Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 26D1 – 440.96 tại quán game “Anh H”. Anh G bảo Q chở anh G đến Công ty S, khu công nghiệp Y rồi cho Q mượn xe. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, do cần tiền tiêu nên Q nảy sinh ý định bán xe môtô mượn của anh G. Q điều khiển xe môtô đi đến quán “Cầm đồ 190” của anh Nguyễn Văn H tại thôn Y, xã Y, huyện Y, Q hỏi vay anh H số tiền 5.000.000 đồng, hẹn bán xe sẽ trả tiền nên anh H chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản của Q.

Sau đó, Q sử dụng điện thoại Iphone 6 của Q đăng nhập vào tài khoản Facebook “Trần Duy Q” giao bán xe môtô mượn của G với giá 7.000.000 đồng nên anh Trịnh Văn T hỏi mua chiếc xe môtô trên rồi anh T đi theo vị trí Q gửi đến quán “Cầm đồ 190”. Tại quán cầm đồ, Q nói nguồn gốc xe là của vợ Q, do cần tiền nên bán, anh T đồng ý mua. Do trước đó Q còn nợ anh H số tiền 200.000 đồng nên Q bảo anh T chuyển khoản cho anh H số tiền 5.200.000 đồng. Sau khi anh T chuyển khoản 5.200.000 đồng cho anh H. Anh T hỏi xin Q 100.000 đồng, Q đồng ý nên anh T chuyển cho Q số tiền 1.700.000 đồng. Q giao xe cho anh T, bên trong cốp xe có 01 bản photo giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe và 01 giấy biên nhận của Công ty T2.

Đến khoảng 17 giờ ngày 11/5/2024, anh Trịnh Văn T đã bán lại xe môtô trên cho anh Đoàn Trắc K với giá 11.400.000 đồng.

Tối ngày 10/5/2024, Q nói với anh G về việc đã bán xe môtô của anh G để lấy tiền chơi game. Anh G yêu cầu Q lấy chiếc xe về trả nhưng Q không đồng ý. Ngày 13/5/2024, anh G làm đơn trình báo đến Công an huyện Y.

Ngày 14/5/2024, Trần Duy Q đã đến Công an huyện Y đầu thú, thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 điện thoại Iphone 6.

Sau khi biết xe môtô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96 là tài sản do phạm tội mà có, ngày 15/5/2024, anh Đoàn Trắc K đã tự nguyện giao nộp xe mô tô cùng các giấy tờ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y.

Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐG ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: “01 chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96, số khung RLHJA3926PY556817, số máy JA39E3201194, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 14.500.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 116/CT-VKS-YP ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Trần Duy Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo Q khai: Bị cáo mượn xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96 của anh Lò Văn G. Do không có tiền chi tiêu nên bị cáo đã bán xe mô tô cho anh Trịnh Văn T với giá 6.900.000 đồng. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là anh Lò Văn G vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh G đã nhận lại xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96. Anh G không yêu cầu Q không phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Q.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh T mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96 của Q với giá 6.900.000 đồng và bán lại xe mô tô trên cho anh Đoàn Trắc K với giá 11.400.000 đồng. Anh Trần Văn T1 là chú của Q đã trả lại cho anh T số tiền 6.900.000 đồng, anh T trả lại cho anh K số tiền 11.400.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Trắc K vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh K mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96 của anh T. Sau khi biết xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có, anh K đã giao nộp xe mô tô cho Công an. Đến nay, anh T đã trả lại cho anh K số tiền 11.400.000 đồng và anh K không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị anh Trần Văn T1 trình bày: Anh là chú ruột của bị cáo Trần Duy Q. Q đã tác động gia đình nên anh T1 đã bồi thường cho anh T số tiền là 6.900.000 đồng. Anh T1 không yêu cầu Q phải trả lại số tiền anh đã bồi thường cho anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

-Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Trần Duy Q từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, số máy MG482J/A, số IMEI: 355411072973506.

Lưu hồ sơ đĩa DVD ghi lại hình ảnh bán xe mô tô của bị cáo.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Q thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ ngày 11/5/2024, tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Trần Duy Q đã có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96 của anh Lò Văn G. Sau khi mượn xe mô tô, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nên đã bán xe mô tô cho anh Trịnh Văn T với giá 6.900.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt trị giá 14.500.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú, bị cáo có thời gian phục vụ quân đội, đã được xuất ngũ về địa phương Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 6.900.000 đồng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, số máy MG482J/A, số IMEI: 355411072973506 thu giữ của bị cáo. Do bị cáo sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Lưu hồ sơ đĩa DVD ghi lại hình ảnh bán xe mô tô của bị cáo.

[3] Những vấn đề khác:

Đối với anh Trịnh Văn T, anh Đoàn Trắc K là người mua, bán xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 26D1-440.96, anh T và anh K không biết xe mô tô là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý anh T, anh K là phù hợp.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Duy Q 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/5/2024.

    - Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Trần Duy Q 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, số máy MG482J/A, số IMEI: 355411072973506.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

    Lưu hồ sơ đĩa DVD ghi lại hình ảnh bán xe mô tô của bị cáo.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Duy Quỳnh - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger