|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2024/DS-PT
Ngày 12/12/2024
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và ông Lưu Anh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 150/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Văn bản ủy quyền ngày 04/8/2023). Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K; Địa chỉ: I L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thương T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ G, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Văn bản ủy quyền ngày 04/6/2024). Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Minh K1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ G, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Phan Thành C, sinh năm 1994. Địa chỉ: I L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Giữa bà Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị K có quan hệ là chị chồng em dâu, bà Đ là vợ của ông Nguyễn L ông L là em ruột của bà K. Ngày 25/01/2013 bà K viết giấy vay của bà Đ số tiền 130.000.000 đồng, thời hạn vay 1 tháng; ngày 08/5/2015 bà K viết giấy vay của bà số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay 3 ngày, lãi suất hai bên thỏa thuận, vào đầu năm 2017 bà K có mượn gia đình bà Đ số tiền 300.000.000 đồng, đối với số tiền này bà Đ cho bà K cho mượn và không viết giấy tờ, lãi suất hai bên thỏa thuận lãi tính 3%/tháng. Sau khi cho mượn tiền đến nay bà K không trả tiền cho bà Đ như đã cam kết. Nay bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị K phải trả cho bà số tiền là 2.013.150.000 đồng gồm 930.000.000 đồng tiền nợ gốc và 1.083.150.000 đồng tiền nợ lãi (tiền lãi tạm tính vào thời điểm khởi kiện ) và tiền nợ lãi cho đến khi giải quyết xong vụ án. Ngày 13/9/2023 bà Đ có đơn thay đổi về yêu cầu khởi kiện, cụ thể bà Đ chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà K trả cho bà tài sản là số tiền nợ gốc 930.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi của số tiền này.
Bà Đ không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà trả số tiền 229.000.000 đồng và lãi suất chậm trả kể từ ngày 12/9/2020 vì bà khẳng định bà không viết tờ giấy do phía bị đơn cung cấp mà trong giấy bị đơn cung cấp không có chữ ký của bà xác nhận, giấy không có nội dung bà đã nhận số tiền lãi và giấy không có nội dung đã trả hết số nợ gốc cho bà K. Đối với các kết luận giám định thì bà không có ý kiến gì và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
1.2 Bị đơn bà Nguyễn Thị K và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Giữa bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ có quan hệ là chị chồng và em dâu, bà Đ nhiều lần vay tiền bà K chứ không có việc bà K vay mượn tiền của bà Đ, hai giấy vay tiền bà Đ cung cấp cho Tòa án ở mục người vay tiền bà thừa nhận là chữ ký và chữ viết của bà theo kết luận giám định, tuy nhiên bà không biết vì sao lại có giấy vay này, bà không nhớ ra. Bà K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện cũng như thay đổi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì thực tế bà không vay mượn bà Đ, bà Đ còn đang nợ bà nên ngày 12/9/2020 bà đã có đơn phản tố về việc yêu cầu bà Đ trả số tiền 229.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ thời điểm ngày 12/9/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
1.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Minh K1 trình bày:
Bà là em gái của bà Nguyễn Thị K và em chồng của bà Nguyễn Thị Đ (ông Nguyễn L là anh trai của bà). Bà không có liên quan gì trong vụ án này, việc ông L có mượn tiền bà để chữa bệnh bà đã thanh toán xong với bà Đ, giữa bà với bà K ông L không có bất cứ một thoả thuận nào khác. Vì vậy bà từ chối tham gia tố tụng, đề nghị giải quyết vắng mặt bà tại tất cả các phiên toà.
1.4 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Thành C trình bày:
Anh là con ruột của bà Nguyễn Thị K và là cháu của bà Nguyễn Thị Đ, anh được biết bà Đ là người làm nghề đáo hạn ngân hàng nên thường xuyên vay tiền của mẹ anh là bà K. Số tiền vay qua nhiều lần tổng cộng là 900.000.000 đồng, vì bà Đ mất khả năng thanh toán nên đã thoả thuận với cha mẹ anh cấn trừ 4 lô đất ở Thôn E, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho cha mẹ anh. Thời điểm cấn trừ đất anh còn độc thân cha anh thì đau ốm đi lại khó khăn nên cha mẹ anh và ông L bà Đ thoả thuận ký hợp đồng chuyển nhượng 4 lô đất ở Thôn E, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai sang cho anh để anh thuận tiện trong việc làm hồ sơ giấy tờ nhà đất. Anh khẳng định không có việc ông L và bà Đ bán đất cho anh để lấy tiền chữa bệnh mà việc ông L bà Đ chuyển nhượng 04 lô đất nói trên sang cho anh đế trừ vào khoản vay 900.000.000 đồng của bà L nợ mẹ anh. Anh không có liên quan gì trong vụ án này, anh từ chối tham gia tố tụng, đề nghị giải quyết vắng mặt anh tại tất cả các phiên toà.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, 35, 39,70,72, Điều 111, 112, 126, 136, 144, khoản 1 Điều 147, Điều 160, Điều 161, Điều 184, Điều 185, Điều 186, Điều 195, Điều 200, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 234, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 149, 155, Điều 274, 275, 280, 357, 429, 463, 465, 466, Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 12, Khoản 1, 4 và 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ: Buộc bà Nguyễn Thị K phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền gốc là 630.000.000 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu đồng)
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc buộc bà Nguyễn Thị K trả số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị K: Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị K số tiền 320.296.957đồng (Ba trăm hai mươi triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng), trong đó tiền gốc là 229.000.000đồng, tiền lãi là 91.296.957 đồng.
- Bù trừ nghĩa vụ bà Nguyễn Thị K còn phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền là 630.000.000 đồng – 320.296.956 đồng = 309.703.044 đồng (Ba trăm lẻ chín triệu bảy trăm lẻ ba nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng)
- Về chi phí giám định: Buộc bà Nguyễn Thị K phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền chi phí giám định là 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2023/QĐ – ADBPKCTT ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài sản của người có nghĩa vụ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị K có đơn kháng cáo về việc đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và những người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan không kháng cáo.
- - Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- - Bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- - Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Khiếu
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Nguyên đơn bà Đ khởi kiện cho rằng bà K vay của bà số tiền 930.000.000 đồng theo hai giấy vay tiền ngày 25/01/2013, ngày 08/5/2015 và số tiền vay 300.000.000 đồng vay vào đầu năm 2017 bà không nhớ rõ nhưng chưa trả cho bà.
Tại quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Đ đã cung cấp cho Tòa án hai giấy vay tiền ngày 25/01/2013, ngày 08/5/2015 có chữ ký và chữ viết của người vay tiền Nguyễn Thị K và một đoạn tin nhắn bằng văn bản bà Đ cho rằng cho vay vào năm 2017 (BL 68,69 và 03). Tại Kết luận giám định số 06/KL – KTHS ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh G đã kết luận họ tên chữ ký trong hai Giấy vay tiền ngày 25/01/2013 và ngày 08/5/2015 là họ tên chữ viết của bà Nguyễn Thị K do cùng một người ký và viết ra (BL 90) do đó có cơ sở khẳng định chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là 02 giấy vay tiền là có thật.
Việc bị đơn bà K trình bày không biết vì sao lại ký vào hai giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp và cho rằng bà chưa nhận tiền từ bà Đ. Bà Đ không thừa nhận việc chưa đưa tiền cho bà K như bà K trình bày.
Thấy rằng bị đơn là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên việc bị đơn cho rằng không biết lý do tại sao lại ký vào hai giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp và cho rằng bà chưa nhận tiền là không hợp lý. Do đó cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà K trả lại tài sản là 630.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.2] Bị đơn còn cho rằng đến thời điểm ngày 12/9/2020 bà Đ là người còn nợ tiền bà, chứ bà không nợ bà Đ và trong suốt thời gian dài bà Đ không có thực hiện việc đòi nợ cũng như tính lãi là không phù hợp với thực tế.
Xét thấy, 02 giấy vay tiền của nguyên đơn cung cấp và giấy chốt tiền lãi do bị đơn cung cấp để làm chứng cứ chứng minh không có vay tiền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng hai chứng cứ này không có liên quan với nhau, ngoài lời khai thì bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh đã chốt xong khoản nợ của 2 giấy nợ nêu trên. Do đó, chưa đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà K.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà K trả 300.000.000 đồng nguyên đơn cho rằng bà K vay vào khoản đầu năm 2017; và yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu Toà án xem xét giải quyết buộc nguyên đơn bà Đ trả cho bà số tiền còn nợ là 229.000.000 đồng và tiền lãi. Đối với các vấn đề này, đương sự đều không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/9/2023 bà Nguyễn Thị K có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Toà án vì bà là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ: Buộc bà Nguyễn Thị K phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền gốc là 630.000.000 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu đồng)
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị K: Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị K số tiền 320.296.957đồng (Ba trăm hai mươi triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng), trong đó tiền gốc là 229.000.000đồng, tiền lãi là 91.296.957 đồng.
- Bù trừ nghĩa vụ bà Nguyễn Thị K còn phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền là 630.000.000 đồng – 320.296.956 đồng = 309.703.044 đồng (Ba trăm lẻ chín triệu bảy trăm lẻ ba nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng)
- Về chi phí giám định: Buộc bà Nguyễn Thị K phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền chi phí giám định là 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng)
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2023/QĐ – ADBPKCTT ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài sản của người có nghĩa vụ.
- Về án phí dân sự:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, 35, 39,70,72, Điều 111, 112, 126, 136, 144, khoản 1 Điều 147, Điều 160, Điều 161, Điều 184, Điều 185, Điều 186, Điều 195, Điều 200, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 234, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 149, 155, Điều 274, 275, 280, 357, 429, 463, 465, 466, Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 12, Khoản 1, 4 và 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ với bị đơn là bà Nguyễn Thị K.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc buộc bà Nguyễn Thị K trả số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và 16.014.848 đồng (Mười sáu triệu không trăm mười bốn nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng) tiền án phí dân sự đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận sung quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp 36.131.500 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0001155 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị Đ được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 5.116.652 đồng (Năm triệu một trăm mười sáu nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng) theo biên lai trên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 126/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 126/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ với bị đơn là bà Nguyễn Thị K.
