Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hường

Ông Nông Quốc Khôi

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Mộng, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 549/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tô Thị N, tên gọi khác: Không có, giới tính: Nữ. Sinh ngày 25/11/1992 tại Trà Vinh. Nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12. Con ông: Tô Văn N1, sinh năm 1965. Con bà Phạm Thị Cẩm H, sinh năm 1973. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 02. Chồng: Lưu Đức T, sinh năm 2000. Có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 05/7/2023 bị Đồn Biên phòng N4 - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng về hành vi nhập cảnh trái phép, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2023, thông qua mạng xã hội Tô Thị N quen biết với một người phụ nữ (không biết họ tên, địa chỉ) hướng dẫn N đón xe lên biên giới tỉnh Lạng Sơn và được người khác đón, đưa xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Đến đầu tháng 7/2023, N nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực mốc biên giới 783 thuộc xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và bị Đồn Biên phòng N4 – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 952/QĐ-XPVPHC ngày 05/7/2023 về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật” được quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 18, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt tiền 4.000.000 đồng, N đã chấp hành xong và quay trở về địa phương nơi cư trú.

Đến ngày 27/6/2024, N tiếp tục xuất cảnh sang Trung Quốc qua cửa khẩu M, Quảng Ninh để lao động làm thuê nhưng do công việc vất vả nên N đã tìm hiểu qua mạng xã hội T1 và được một người đàn ông Việt Nam (không biết họ tên, địa chỉ) hướng dẫn cách về Việt Nam. Tối ngày 01/7/2024, N đi xe taxi đến một căn nhà hoang tại thành phố N, Q, Trung Quốc. Chờ đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì có thêm 07 (bảy) công dân Việt Nam gồm: Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1986; trú tại: T, N, L, Bắc Giang); Nguyễn Thị Kim T2 (sinh năm: 1995; trú tại: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ); Hoàng Thị H2 (sinh năm 1991; trú tại: Thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh); Moong Thị T3 (sinh năm 1997; trú tại: Bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An); La Thị C (sinh năm: 1994; trú tại: Bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An); Trần Văn N2 (sinh năm 1995; trú tại: số nhà A; thị trấn N, tỉnh Thanh Hóa); Phạm Ngọc A (sinh năm 1989; trú tại: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương) đến. Sau đó có một người đàn ông Trung Quốc không quen biết đến đón N và những người trên đến khu vực biên giới để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực mốc 888 thuộc địa phận xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì bị Tổ tuần tra của Đồn Biên phòng Q phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy tố theo Điều 347 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSCB-P1 ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Tô Thị N về tội: “Vi phạm quy định về nhập cảnh” theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội vi phạm quy định về nhập cảnh là đúng với hành vi đã thực hiện.

Kết thúc xét hỏi tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trình bày lời luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tô Thị N về tội: “Vi phạm quy định về nhập cảnh” theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về nhập cảnh”.

Về hình phạt: Áp dụng Điều 347; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Tô Thị N từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A18.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO F11 Pro.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến bào chữa và không tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án về động cơ, mục đích, thời gian, địa điểm nhập cảnh vào Việt Nam. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 05/7/2023, Tô Thị N nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực mốc 783 thuộc xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và bị Đồn Biên phòng N4 – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 952/QĐ- XPVPHC với số tiền phạt là 4.000.000 đồng về hành vi nhập cảnh trái phép. Ngày 27/6/2024, N tiếp tục xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, đến ngày 02/7/2024 nhập cảnh trái phép về Việt Nam qua khu vực mốc 888 thuộc địa phận xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì bị Đồn Biên phòng Q phát hiện.

Bị cáo Tô Thị N là người có đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính về lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh. Bị cáo cố ý trực tiếp nhập cảnh vào nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không có giấy tờ đúng quy định của pháp luật, bên cạnh đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi nhập cảnh chưa được coi là hết thời hiệu. Do đó, hành vi gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Vi phạm quy định về nhập cảnh” quy định tại Điều 347 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 952/QĐ- XPVPHC là tình tiết định tội đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo và tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[5] Việc xử lý vật chứng:

Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A18 do bị cáo sử dụng để trao đổi phương thức nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO F11 Pro do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với các đối tượng đã tổ chức cho N xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, do không có thông tin về họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Kim T2, Hoàng Thị H2, Moong Thị T3, La Thị C, Trần Văn N2, Phạm Anh N3 có hành vi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, do hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Đồn Biên phòng Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là có căn cứ.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về nhập cảnh”.

Căn cứ Điều 347; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Thị N 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/7/2024).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 (kiểu máy CPH2591) của bị cáo Tô Thị N do bị cáo sử dụng để trao đổi phương thức nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại OPPO F11 Pro (kiểu máy CPH1969) do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Các vật chứng trên được tạm giữ tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 145 ngày 05/9/2024.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Cơ quan An ninh điều tra;
  • - Cục THADS tỉnh Cao Bằng.
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án, HCTP;
  • - Lưu toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Na

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về nhập cảnh (hình sự)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về nhập cảnh (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 05/7/2023, Tô Thị N nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực mốc 783 thuộc xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và bị Đồn Biên phòng Ngọc Chung – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 952/QĐ- XPVPHC với số tiền phạt là 4.000.000 đồng về hành vi nhập cảnh trái phép. Ngày 27/6/2024, N tiếp tục xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, đến ngày 02/7/2024 nhập cảnh trái phép về Việt Nam qua khu vực mốc 888 thuộc địa phận xóm Kỳ Lạc, xã Quang Long, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng thì bị Đồn Biên phòng Quang Long phát hiện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger