Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST

Ngày: 11/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Ngọc Lâm.
  • - Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Phượng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Doãn Thế Dương.
  • 2/Ông Vũ Văn Kiên.
  • 3/Bà Đinh Thị Hương.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109 /2023/TLST - HS ngày 13/7/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST - HS ngày 26/7/2023, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị P; sinh năm 1995 tại: N, Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tư do; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1968; Con bà: Trần Thị T (đã chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Chồng: Đặng Sỹ D, sinh năm 1990 (đã ly hôn).

Bị cáo có 01 con, sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Đình S, Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh H. (có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo).

*Người bị hại:

1/Anh: Bùi Văn C, sinh năm 1985 (có mặt).

Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

* Những người làm chứng:

1

1/Anh: Nguyễn Phương N, sinh năm 1997 (có mặt).

Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

2/Bà: Bùi Tố L, sinh năm 1969.

3/Bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1976.

Đều trú tại: thôn N, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

4/Anh: Nguyễn Văn P1, sinh năm 1987.

Trú tại: thôn A, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

5/Ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1968.

Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

6/Anh: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992.

Trú tại: thôn T, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2021, thông qua mạng xã hội Facebook Nguyễn Thị P, sinh năm 1995, trú tại: thôn N, xã Đ, huyện  quen biết với anh Bùi Văn C, sinh năm 1985, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Bản thân P là người làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều người, không có khả năng trả nợ. P thường xuyên sử dụng điện thoại Iphone 6 bên trong có số thuê bao 0866.049.927 và tài khoản mạng xã hội Z tên là “H2 rơi cửa phật” để gọi điện, nhắn tin nói chuyện tình cảm qua lại đến 02 số điện thoại của anh C là 0948.104.xxx và 0986.116.169 và tài khoản mạng xã hội Zalo tên là “Bùi Văn C”. P biết anh C có tình cảm với mình và là người có điều kiện về kinh tế, có thể lợi dụng tình cảm và niềm tin của anh C để vay tiền. Để thực hiện mục đích của mình, P đã đưa các thông tin không có thật như: Bản thân cần tiền để điều trị bệnh, cần tiền gấp để chi trả viện phí điều trị, chữa bệnh cho bố đẻ bị ngộ độc thuốc... để vay tiền của anh C. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 02/2022, anh C đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản số: 5299929111995 Ngân hàng M và tài khoản số: 0591000256753 Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị P với tổng số tiền: 200.000.000 đồng. Sau 03 tháng P đã trả lại cho anh C số tiền trên.

Sau khi sử dụng hết số tiền mà anh C cho vay. P nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh C nên khoảng cuối tháng 02/2022, P tìm mua sim điện thoại số: 0941.059.xxx (sim rác) nhắn tin và gọi điện cho anh C giả giọng giới thiệu: “Tên là L1 - Trưởng khoa Bệnh viện B, thành phố Hà Nội là mẹ nuôi của P và trực tiếp theo dõi, điều trị bệnh cho P tại Bệnh viện B”. Khi giả giọng “Lan”, P thường nói nhanh và cách xưng hô như người bề trên để anh C không phát hiện ra. Quá trình nói chuyện “Lan” đã đưa ra nhiều thông tin gian dối để vay tiền

2

của anh C như: Bố, mẹ chồng của “Lan” ốm chết cần tiền để lo ma chay hoặc bố đẻ bị tai biến đang nằm điều trị tại Bệnh viện A, TP . nên cần tiền trả viện phí hoặc cần tiền để lo chạy chức lên Phó giám đốc Bệnh viện B1, TP ., đồng thời bảo C chuyển tiền cho vay vào tài khoản của P, sau đó P sẽ rút tiền ra đưa cho “Lan”. Do anh C có quan hệ tình cảm với P, mặt khác bản thân P cũng đưa ra thông tin gian dối về việc đang được mẹ nuôi là “Lan” điều trị bệnh nên anh C tưởng thật nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản số: 7771985888999 Ngân hàng M và số: 2409205056897 Ngân hàng A1 của anh C đến tài khoản số: 0591000256753 Ngân hàng V và số: 5299929111995 Ngân hàng M của P. Để tạo niềm tin cho anh C, sau mỗi lần anh C chuyển tiền cho vay, P (giả L1) đã lấy một phần nhỏ để trả cho anh C khoản vay lần trước đó. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 5/2022, anh C đã chuyển cho “L1” vay 121 lần với tổng số tiền là: 2.089.500.000đồng. “Lan” đã chuyển khoản (từ tài khoản tên P) để trả cho C với tổng số tiền: 924.000.000đồng. Số tiền còn lại: 1.165.500.000đồng, anh C đã nhiều lần gọi điện đòi nhưng “L1” không trả.

Sau khi nhận được tiền, P đã mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, không nhớ BKS với : 116.000.000đồng, trả một số khoản nợ và tiêu sài cá nhân hết. Chiếc xe máy đó P đã bán cho người khác nên Cơ quan điều tra không quản lý được.

Đến tháng 6/2022, anh C phát hiện ra “Lan” chính là P nên đã gửi đơn tố cáo P đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện  đề nghị xử lý P theo quy định của pháp luật. Anh C tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 USB bên trong có chứa các đoạn hội thoại giữa “Lan” và anh C; 01 giấy vay tiền do P viết.

Tại kết luận giám định số: 1894/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của V1 - Bộ C4, kết luận: Đối với đoạn hội thoại được lưu giữ trong 01 USB do anh C giao nộp: Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung file âm thanh mẫu cần giám định. Không đủ điều kiện đưa ra kết luận giám định tiếng nói của người phụ nữ trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Thị P trong mẫu so sánh là của cùng một người.

Tại kết luận giám định số: 167/KL-KTHS ngày 09/8/2022 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chữ ký, chữ viết trong 01 giấy vay tiền đề ngày 02/5/2022 và 01 giấy vay tiền đề ngày 15/5/2022 đều là của Nguyễn Thị P.

Tại kết luận giám định số: 164/KL-KTHS ngày 18/8/2022 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Đường vân tay bên cạnh chữ ký đứng tên Nguyễn Thị P trên 01 giấy vay tiền đề ngày 02/5/2022 và 01 giấy vay tiền đề ngày 15/5/2022 đều là đường vân tay của Nguyễn Thị P.

3

Ngày 31/10/2022, cơ quan CSĐT - Công an huyện  tiến hành xác minh tại Bệnh viện B, TP ., xác định: Tại Bệnh viện B không có ai tên “L1” - Trưởng khoa Bệnh viện B, TP Hà Nội.

Kết quả tra cứu tại Tập đoàn C5 Chi nhánh V2, xác định: Chủ thuê bao đăng ký số điện thoại 0941.059.xxx là Phạm Thị L2, sinh năm 1960 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên: Các cuộc gọi đi và gọi đến đều phát sinh tại trạm thu, phát viễn thông (BTS) khu vực Â, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên, bà L2 không sử dụng số thuê bao trên, không biết, không liên quan gì đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Thị P.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động và 01 sim có số thuê bao 0941.059.865 Phương đã giả danh (L1) để gọi điện liên lạc và vay tiền của anh C, P đã vứt bỏ điện thoại và sim trên, hiện Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh P mua từ tháng 8/2022 dùng để liên lạc cá nhân.

Bản cáo trạng số: 110/CT- VKS-P3 ngày 11/7/2023 của VKSND tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thống nhất của bị cáo và người bị hại, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại số tiền: 1.165.500.000đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải chịu lãi suất trên số tiền đã chiếm đoạt.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

* Luận cứ bào chữa cho bị cáo của luật sư Bùi Đình S: Nhất trí về tội danh và hành vi phạm tội của bị cáo đã được điều tra làm rõ. Đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc:

4

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị cáo phạm tội.

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là lao động chính trong gia đình và là mẹ đơn thân đang phải nuôi con nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

* Bị cáo Nguyễn Thị P trình bày: Nhất trí và không bổ sung với nội dung bản bào chữa của luật sư và không có quan điểm tranh luận với nội dung bản luận tội.

+Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm cải tạo trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

+Về trách nhiệm dân sự: Bị báo nhất trí với quan điểm của người bị hại tại phiên tòa, bị cáo có nghĩa vụ trả anh C số tiền đã chiếm đoạt 1.165.500.000đồng và không phải trả lãi suất trên số tiền này.

*Người bị hại anh Bùi văn C2 trình bày:

+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

+ Về trách nhiệm dân sự: Nhất trí quan điểm đề nghị hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường trả lại anh số tiền bị cáo đã chiếm đoạt: 1.165.000.000 đồng. Anh tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả lãi suất đối với số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa. Các chứng cứ đó là: Các giấy biên nhận

5

tiền; lời khai của người bị hại, người làm chứng; các kết luận giám định về chữ ký, chữ viết dấu vân tay của bị cáo trên các giấy biên nhận cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 8/2021, thông qua mạng xã hội Facebook bị cáo Nguyễn Thị P quen biết với anh Bùi Văn C. Bản thân bị cáo là người làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều người, không có khả năng trả nợ. Bị cáo thường xuyên sử dụng điện thoại và tài khoản mạng xã hội Zalo để gọi điện, nhắn tin nói chuyện tình cảm qua lại đến điện thoại và tài khoản mạng xã hội Zalo của anh C. Bị cáo biết anh C có tình cảm với mình và là người có điều kiện về kinh tế, có thể lợi dụng tình cảm và niềm tin của anh C để vay tiền. Để thực hiện mục đích của mình, bị cáo đã đưa các thông tin không có thật như: Bản thân cần tiền để điều trị bệnh, cần tiền gấp để chi trả viện phí điều trị, chữa bệnh cho bố đẻ bị ngộ độc thuốc...để vay tiền của anh C. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 02/2022, anh C đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng M và tài khoản Ngân hàng V mang tên bị cáo với tổng số tiền: 200.000.000đồng. Sau 03 tháng bị cáo đã trả lại cho anh C số tiền trên.

Sau khi sử dụng hết số tiền mà anh C cho vay. Bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh C nên khoảng cuối tháng 02/2022, bị cáo tìm mua sim điện thoại (sim rác) nhắn tin và gọi điện cho anh C giả giọng giới thiệu: “Tên là L1 - Trưởng khoa Bệnh viện B, thành phố Hà Nội là mẹ nuôi của P và trực tiếp theo dõi, điều trị bệnh cho P tại Bệnh viện B”. Khi giả giọng “Lan”, bị cáo thường nói nhanh và cách xưng hô như người bề trên để anh C không phát hiện ra. Quá trình nói chuyện “Lan” đã đưa ra nhiều thông tin gian dối để vay tiền của anh C như: Bố, mẹ chồng của “Lan” ốm chết cần tiền để lo ma chay hoặc bố đẻ bị tai biến đang nằm điều trị tại Bệnh viện A, TP Hà Nội nên cần tiền trả viện phí hoặc cần tiền để lo chạy chức lên Phó giám đốc Bệnh viện B1, TP Hà Nội, đồng thời bảo C chuyển tiền cho vay vào tài khoản của bị cáo, sau đó bị cáo sẽ rút tiền ra đưa cho “Lan”. Do anh C có quan hệ tình cảm với bị cáo, mặt khác bản thân bị cáo cũng đưa ra thông tin gian dối về việc đang được mẹ nuôi là “Lan” điều trị bệnh nên anh C tưởng thật nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng M và Ngân hàng A1 của mình đến tài khoản Ngân hàng V và Ngân hàng M của bị cáo. Để tạo niềm tin cho anh C, sau mỗi lần anh C chuyển tiền cho vay, bị cáo (giả L1) đã lấy một phần nhỏ để trả cho anh C khoản vay lần trước đó. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 5/2022, C đã chuyển cho “L1” vay 121 lần với tổng số tiền là: 2.089.500.000đồng. “Lan” đã chuyển khoản (từ tài khoản tên bị cáo) để trả cho C với tổng số tiền: 924.000.000đồng. Số tiền còn lại: 1.165.500.000đồng anh C đã nhiều lần gọi điện đòi nhưng “L1” không trả.

Sau khi nhận được tiền, bị cáo đã mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen, không nhớ BKS với giá 116.000.000đồng, trả một số khoản nợ và

6

tiêu sài cá nhân hết. Chiếc xe máy đó bị cáo đã bán cho người khác nên Cơ quan điều tra không quản lý được.

Đến tháng 6/2022, anh C phát hiện ra “Lan” chính là bị cáo nên đã gửi đơn tố cáo bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện  đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Anh C tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 USB bên trong có chứa các đoạn hội thoại giữa “Lan” và anh C; 01 giấy vay tiền do bị cáo viết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như vậy là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng tình cảm cũng như sự tin tưởng của người bị hại để đưa ra các thông tin không đúng sự thật làm cho người bị hại tin tưởng chuyển cho bị cáo với số lượng tiền rất lớn để bị cáo chiếm đoạt tiêu sài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây bất bình trong dư luận và làm mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo:

+Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của người bị hại, bị cáo đã tự trích lại một phần trả lại cho người bị hại; hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, vợ chồng bị cáo đã ly hôn, bị cáo là mẹ đơn thân đang trực tiếp nuôi 01 con nhỏ sinh năm 2015. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản và nhiều lần chiếm đoạt có số lượng tiền trên 2.000.000đồng. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

+Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, do nợ nần không có khả năng thanh toán nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người bị hại để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Bị cáo lợi dụng tình

7

cảm của người bị hại đưa ra các thông tin gian dối về bản thân và gia đình để người bị hại tin tưởng cho vay tiền. Không dừng ở đó, sau khi thấy người bị hại có tình cảm với mình và tin tưởng vào mình, bị cáo đã giả danh người khác và tiếp tục đưa ra các thông tin gian dối không đúng sự thật để người bị hại chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo. Sau mỗi lần người bị hại chuyển tiền vào tài khoản của mình, bị cáo tự trích một phần nhỏ tiền nhận được trả cho các khoản vay trước để tạo lòng tin cho người bị hại dẫn đến người bị hại tin tưởng đã 121 lần chuyển tiền cho bị cáo với tổng số tiền 2.089.500.000đồng (bị cáo đã nhiều lần chuyển trả người bị hại được số tiền: 924.000.000đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất tinh vi, lợi dụng sự tin tưởng của người bị hại để chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn. Đến nay, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt sử dụng cá nhân: 1.165.500.000đồng, bị cáo vẫn chưa trả được cho người bị hại. Do vậy, khi quyết định hình phạt cần tuyên phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, lẽ ra phải phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có công ăn việc làm, thu nhập ổn định và còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại một khoản tiền rất lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và người bị hại thống nhất xác định số tiền bị cáo đã chiếm đoạt trên cơ sở các sao kê chuyển tiền của các Ngân hàng do Cơ quan điều tra thu thập và Ngân hàng cung cấp, bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại số tiền là: 1.165.500.000đồng, bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại.

Người bị hại có quan điểm tự nguyện không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ phải thanh toán lãi suất trên số tiền trên.

Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên cần được ghi nhận.

[8]. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh kèm 01 sim liên lạc (trong phong bì niêm phong, ký hiệu II có 05 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện  và chữ ký của Trần Huy C3, Nguyễn Thị P, Nguyễn Huy T1) là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

8

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/10/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584; Điều 585; Điều 586 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải trả cho anh Bùi Văn C, sinh năm 1985; Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên số tiền đã chiếm đoạt: 1.165.500.000đồng (một tỷ một trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

Chấp nhận sự tự nguyện của anh Bùi Văn C không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu lãi suất trên số tiền đã chiếm đoạt.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án khoản tiền phải trả trên thì còn phải chịu lãi suất tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo quy định của pháp luật.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh kèm 01 sim liên lạc trong phong bì niêm phong, ký hiệu II có 05 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện  và chữ ký của Trần Huy C3, Nguyễn Thị P, Nguyễn Huy T1.

Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 46.965.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là: 47.165.000 đồng (bốn mươi bảy triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng chẵn).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi

9

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 126/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger