Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc


Bản án số: 126/2024/HSST

Ngày: 09/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đình Thức

2/ Ông Đặng Tấn Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Hà Ngọc Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 123/2024/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Vòng Chủ Hồng; sinh ngày: 12/3/2003; tại: Bình Thuận; trú tại: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: 4 đường P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vòng L, sinh năm 1977 và bà Lô Thị Thanh V, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 11/2023, V1 Chủ H mua 02 viên ma túy dạng thuốc lắc và 01 gói ma túy dạng khay với giá 2.000.000 đồng của một thanh niên (không rõ lai lịch) tại quán bar P trên đường G, quận T. H đã sử dụng 01 viên ma túy dạng thuốc lắc và 01 ít ma túy dạng khay, số ma túy còn lại H cất trên rèm cửa sổ phòng thuê của H tại địa chỉ 4 đường P, phường P, quận T, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12/12/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phối hợp Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q1 và Công an phường P, quận T kiểm tra, phát hiện số ma túy trên và đưa H cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Theo Kết luận giám định số 13836/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H đã kết luận:

- Gói 1: Tinh thể được ký hiệu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2942g loại Ketamine.

- Gói 2: 01 viên nén được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3160g, loại MDMA.

Vật chứng:

- 02 gói niêm phong 13836 (2710) bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Thị Thảo Q và Giám định viên Bùi Công D.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imel 355656665114229 thu giữ của bị cáo H.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSQ.TP ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Vòng Chủ H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo V1 Chủ H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12/12/2023 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an quận T kết hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an Q1 kiểm tra phòng thuê của V1 Chủ H1 tại 4 đường P, phường P, quận T phát hiện, thu giữ ma túy nên đưa H1 về trụ sở Công an làm việc. Bị cáo H1 thừa nhận số ma túy trên là của bị cáo mua để nhằm mục đích sử dụng.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo V1 Chủ H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy mà tổng khối lượng của hai chất này là 0,6102 gam, tuy nhiên căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tỷ lệ phần trăm các chất ma túy bị cáo tàng trữ là thuộc trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố bị cáo V1 Chủ H1 theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 02 gói niêm phong 13836 (2710) bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Thị Thảo Q và Giám định viên Bùi Công D, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imel 355656665114229 thu giữ của bị cáo H1, là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo H1 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo V1 Chủ H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo V1 Chủ Hồng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 14 tháng 12 năm 2023.

[2] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) gói niêm phong 13836 (2710) bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Thị Thảo Q và Giám định viên Bùi Công D.

- Trả cho bị cáo V1 Chủ H1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imel 355656665114229.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 112/PNK ngày 09/5/2024 của Công an quận T)

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKS quận Tân Phú;
  • - THA quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Hoàng Lâm

Trang 4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 126/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger