|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày: 06-8-2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Nam Bình.
- Bà Nguyễn Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Anh T, sinh ngày 10/8/1981, tại tỉnh Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà C, chung cư T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện tại: Số nhà A, ngõ B, đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Xuân H và bà Nguyễn Thị D, (Đã chết); Có vợ là Phạm Thị T1, đã ly hôn; Bị cáo chưa có con. Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPHC ngày 27/8/2021 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình đối với Đặng Anh T về hành vi Trộm cắp tài sản. Xử phạt 1.500.000 đồng, đến ngày 01/4/2024 Đặng Anh T đã nộp tại biên lai số 0001765.
Nhân thân:
- Quyết định số 3566/QĐ-UB ngày 19/12/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ngày 09/12/2005.
- Quyết định số 1139/QĐ-CT ngày 07/12/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 08/12/2007.
- Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 30 và Quyết định khởi tố bị can số 29 ngày 28/02/2008 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình đối với Đặng Anh T về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 199 Bộ luật Hình sự. Quyết định đình chỉ vụ án số 05 và Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can số 06, ngày 03/8/2009 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình căn cứ vào điểm đ khoản 2 điều 1 Nghị quyết số 33 ngày 19/6/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 01 Điều 25 Bộ luật Hình sự do chuyển biến của tình hình. Vì vậy Đặng Anh T được miễn trách nhiệm hình sự.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 28/4/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Phạm Đình C, sinh năm 1993, trú tại: Số nhà A, ngõ B, đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Ông Phạm Đình T2, sinh năm 1975, trú tại: Số nhà A, đường B, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 22/4/2024, Đặng Anh T đi xe ôm của người không quen biết từ nhà đến khu vực đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. T cất gói ma tuý vừa mua được vào túi quần bên trái rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày khi T đi bộ đến khu vực đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an phường B, thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Đình C và ông Phạm Đình T2, T đã tự giác lấy từ túi quần bên trái của T ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định, kết quả giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1167 gam. Sau đó tổ công tác yêu cầu T và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường B, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Bản kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Đặng Anh T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1167 gam (Không phẩy một nghìn một trăm sáu mươi bảy gam)”. Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là ông Phạm Đình C và ông Phạm Đình T2 đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSTPTB ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Đặng Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy lỗi lầm của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 22/4/2024 tại khu vực đường T, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Đặng Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine (H), có khối lượng 0,1167 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Đặng Anh T khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi tại khu vực đường T, tổ A, phường B thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,0921 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 554/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đặng Anh T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 28/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
6
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Anh T tàng trữ trái phép chất ma tuý
