Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HSST

Ngày: 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Ba

Ông Trần Ngọc Quân – Là Hiệu trưởng Trường

trung học cơ sở Dương Đông 2.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên

tòa: Bà Vũ Thị Yến Nhi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng D, Giới tính: Nam.
  2. Tên gọi khác: Không

    Sinh năm: 2004, tại: thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    Nơi đăng ký thường trú: Ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

    Chỗ ở: Ấp Búng Gội, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

    Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

    Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng Trình độ học vấn: 6/12.

    Con ông Nguyễn Hoàng H và bà Lý Ái T.

    Anh, chị, em: 02 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2012.

    C sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Tài V, sinh năm 2004 (không đăng ký kết hôn)

    Con: Có 01 người con sinh 2023.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  3. Họ và tên: Lê Văn L, Giới tính: Nam.
  4. Sinh ngày: 24/9/2007, tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

    Nơi ĐKTT: Ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

    Chỗ ở: Khu phố 5, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, Kiên Giang.

    Quốc tịch: Việt Nam,Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng Trình độ học vấn: 03/12.

    Con ông Lê Văn M và bà Thạch Thị N.

    Vợ, con: Không.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến ngày 10/01/2024 được thay thế bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.

    (Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Bùi Chí L1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Văn L: Bà Thạch Thị N, sinh năm 1985 (Mẹ ruột bị cáo). Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn L: Ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1984. Là Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Thị H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Ông Huỳnh Ngọc Ẩ, sinh năm 1974. Nơi ĐKTT: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: Ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 21/10/2023, Nguyễn Hoàng D rủ Lê Văn L đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, L đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 67C1- 428.91 (xe mô tô do D thuê của bà Đoàn Thị H1) chạy đến phòng trọ của L thuê ở, thuộc khu phố E, phường D, thành phố P, D giao xe mô tô cho L điều khiển chở D đến khu vực sân bay cũ, thuộc khu phố A, phường D thì phát hiện anh Bùi Chí L1 (sinh ngày 01/01/1991, cư trú: ấp C, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang) đang ngồi trên xe mô tô nghe điện thoại. Lúc này, D kêu L điều khiển xe mô tô áp sát vào xe mô tô của L1 để D giật điện thoại, L điều khiển xe mô tô áp sát vào xe của L1, D dùng tay phải giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, dung lượng 64 GB, màu xanh dương của anh L1, rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát đi hướng ấp B, xã C. Đến khoảng 21 giờ, ngày 22/10/2023, D mang điện thoại cướp giật đến cửa hàng điện thoại “Khánh”, thuộc khu phố E, phường D, thành phố P để mở Icloud thì bị lực lượng Công an thành phố P phát hiện giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Ngày 23/10/2023, Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P bắt người bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và ra quyết định tạm giữ; ngày 25/10/2023, khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, màu xanh dương, 64GB, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6i, màu trắng, điện thoại bị hư hỏng nên không kiểm tra được thông số kỹ thuật, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, số IMEI: 356115099609063, đã qua sử dụng;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát 67C1 – 428.91, đã qua sử dụng;
  • 01 áo sơ mi bằng vải, dài tay, màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • 01 quần jean bằng vải màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • 01 áo sơ mi bằng vải, ngắn tay, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • 01 áo khoác bằng vải, dài tay, màu đen, trên áo có ghi chữ adidas, đã qua sử dụng;
  • 01 quần jean bằng vải, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • 01 mũ bảo hiểm màu kem, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
  • 01 mũ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng;
  • 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng.

* Kết luận định giá tài sản số 130, ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P:

Giá trị 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh dương, loại 64Gb, số máy: MGJ83VN/A, số seri: DX3HM0QP0F0V, mua mới và sử dụng từ tháng 10/2022 là 5.167.000 đồng (Năm triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 124/CT-VKSPQ ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng DLê Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6i, màu trắng, điện thoại bị hư hỏng nên không kiểm tra được thông số kỹ thuật, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, dài tay, màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, ngắn tay, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, dài tay, màu đen, trên áo có ghi chữ adidas, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu kem, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, số IMEI: 356115099609063, đã qua sử dụng;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, màu xanh dương, 64GB, đã qua sử dụng, là tài sản do các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L cướp giật trong vụ án đã được trả lại cho bị hại là ông Bùi Chí L1, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát 67C1 – 428.91, đã qua sử dụng và đã được giao trả lại cho chủ sở hữu là bà Đoàn Thị H1, do xét thấy bà H1 khi cho thuê xe mô tô trên không biết việc bị cáo Nguyễn Hoàng D sử dụng xe vào mục đích phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ án, bị hại Bùi Chí L1 đã nhận lại tài sản bị cướp giật và các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng để sửa chữa khắc phục Icloud bị thay đổi, bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

*Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Văn L: Tôi thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, về mức hình phạt tù mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lê Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo, do bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục xong hậu quả cho bị hại và bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn do cha mẹ bị cáo sống không hạnh phúc đã chia tay nhau mỗi người sống một nơi, bị cáo thiếu sự chăm sóc, giáo dục từ gia đình, bản thân bị cáo lại ít học mới chỉ học đến lớp 3 đã phải nghỉ học nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, ngoài ra bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa từng có tiền án, tiền sự, đây là trường hợp phạm tội lần đầu và bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, cũng do bị bị cáo D rủ rê để thực hiện hành vi phạm tội. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, tôi đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng Khoản 1 Điều 54; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo L với mức án là 01 năm tù cũng đủ răn đe, cải tạo và giáo dục đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của các bị cáo là xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại ông Bùi Chí L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị H1, tuy nhiên ông L1 và bà H1 đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định của pháp luật.

[3]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, nên có đủ căn cứ xác định:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên khoảng 19 giờ ngày 21/10/2023 Nguyễn Hoàng D điện thoại rủ Lê Văn L đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền xiêu xài, L đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày 21/10/2023 L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát 67C1 – 428.91 (xe do D thuê của bà Đoàn Thị H1) chở D đến khu vực sân bay cũ, thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, khi thấy anh Bùi Chí L1 đang ngồi trên xe mô tô nghe điện thoại, thì D kêu L điều khiển xe áp sát vào xe mô tô của anh L1, D dùng tay phải giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, dung lượng 64 GB, màu xanh dương của anh L1, rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát đi hướng ấp B, xã C. Theo kết luận định giá tài sản thì điện thoại mà các bị cáo DL cướp giật của anh L1 trị giá là 5.167.000 đồng (Năm triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bản thân các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân, mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý dùng phương tiện xe mô tô chở nhau đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác được xem là thực hiện hành vi phạm tội với thủ đoạn nguy hiểm, vì việc điều khiển xe mô tô trên đường để thực hiện hành vi cướp giật tài sản còn có thể gây ra những thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, bất kỳ ai thực hiện hành vi này đều bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật, ngoài ra hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Trong đó, xét vai trò của bị cáo Nguyễn Hoàng D là cao hơn bị cáo Lê Văn L, do bị cáo D là người đã trưởng thành trên 18 tuổi chủ động rủ rê bị cáo L là người chưa đủ 18 tuổi để đi cướp giật tài sản của người khác, bị cáo L là người điều khiển xe theo sự phân công của D, còn bị cáo D là người trực tiếp ra tay cướp giật tài sản của bị hại, sau đó bị cáo D là người chiếm giữ điện thoại của bị hại và mang ra tiệm điện thoại để mở Icloud mục đích để bán lại lấy tiền tiêu xài, nên bị cáo D phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo L là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo gây ra.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng D có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã bồi thường khắc phục xong hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Bùi Chí L1 đã nhận lại tài sản bị cướp giật và các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng (mỗi bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng) để sửa chữa khắc phục Icloud của điện thoại bị thay đổi, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6i, màu trắng (tịch thu của bị cáo Nguyễn Hoàng D), điện thoại bị hư hỏng nên không kiểm tra được thông số kỹ thuật, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, dài tay, màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, ngắn tay, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, dài tay, màu đen, trên áo có ghi chữ adidas, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu kem, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng. Do các bị cáo sử dụng các vật chứng này để thực hiện hành vi phạm tội.
  • Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, số IMEI: 356115099609063, đã qua sử dụng, do bị cáo Lê Văn L sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, màu xanh dương, 64GB, đã qua sử dụng, là tài sản do các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L cướp giật trong vụ án đã được trả lại cho bị hại là ông Bùi Chí L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát 67C1 – 428.91, đã qua sử dụng và đã được giao trả lại cho chủ sở hữu là bà Đoàn Thị H1, do xét thấy bà H1 khi cho thuê xe mô tô trên không biết việc bị cáo Nguyễn Hoàng D sử dụng xe vào mục đích phạm tội, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác đều có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[9]. Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Văn L, phần nào phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, riêng đối với đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để chuyển khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cho bị cáo L là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra như Hội đồng xét xử đã nhận định nên không được chấp nhận.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Trách nhiệm hình sự:

  • Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/10/2023.
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến 10/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, số IMEI: 356115099609063, đã qua sử dụng;
  • Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6i, màu trắng, điện thoại bị hư hỏng nên không kiểm tra được thông số kỹ thuật, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, dài tay, màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi bằng vải, ngắn tay, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 áo khoác bằng vải, dài tay, màu đen, trên áo có ghi chữ adidas, đã qua sử dụng; 01 quần jean bằng vải, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu kem, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng.
  • (Các tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 89/QĐ-VKSPQ-HS ngày 01/7/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024)

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12, màu xanh dương, 64GB, đã qua sử dụng, là tài sản do các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L cướp giật trong vụ án đã được trả lại cho bị hại là ông Bùi Chí L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đen đỏ, biển kiểm soát 67C1 – 428.91, đã qua sử dụng và đã được giao trả lại cho chủ sở hữu là bà Đoàn Thị H1, do xét thấy bà H1 khi cho thuê xe mô tô trên không biết việc bị cáo Nguyễn Hoàng D sử dụng xe vào mục đích phạm tội, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Báo cho các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Lê Văn L; người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Văn L là bà Thạch Thị N; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Ngọc Ẩ đều có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại ông Bùi Chí L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - Chi cục T.H.A Dân sự TP.Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Phú Quốc;
  • - Đội tổng hợp Công an TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo; Người đại diện của bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Các đương sự;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 126/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng D và đồng bọn phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger