|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH B Bản án số: 126/2024/HSST Ngày: 06 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bình Minh;
2. Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L; Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày: 11/01/1992, tại tỉnh B;
Nơi cư trú: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hóa: 09/12 phổ thông; Con ông: Lò Văn D, con bà: Quàng Thị X. Vợ: Lò Thị T (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 16/02/2022 bị cáo bị Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử và xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 17/01/2023, bị cáo chấp hành xong toàn bộ Bản án. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/4/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 13/4/2019 bị cáo đã chấp hành xong, đến lần phạm tội lần này được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N; Địa chỉ: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh B (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 24/01/2024, bị cáo Lò Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS 27B2 - 359.27 đi từ nhà tại bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh B, đến bản Hồng Líu, phường N, thành phố Đ, tỉnh B gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết đứng ngoài đường được 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có các cục chất bột màu trắng đục với giá 100.000 đồng. Sau khi mua xong L cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 19 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến gần cổng bản Hồng Líu thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an thành phố Đ đang làm nhiệm vụ kiểm tra, tổ công tác tuyên truyền, vận động thì bị cáo L tự lấy 01 gói giấy bạc màu vàng từ trong túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác, bị cáo khai nhận gói nhỏ đó là ma tuý, loại Heroine, bị cáo mua để bản thân sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 21 giờ 45 phút, ngày 24/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 336/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu các cục chất bột màu trắng đục gửi giám định thu giữ của bị cáo Lò Văn L là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1 gam.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS-TPĐBP ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh giấy bạc màu vàng. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, anh N trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS 27B2 - 359.27 thuộc quyền sở hữu của anh, khi bị cáo L lấy chiếc xe mô tô của anh đi mua ma tuý anh N không có nhà, nên không biết việc bị cáo dùng vào việc phạm tội. Anh đã được cơ quan công an trả lại chiếc xe mô tô trên, sau khi nhận lại chiếc xe, anh không có ý kiến gì.
Bị cáo Lò Văn L không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 19 giờ 40 phút ngày 24/01/2024 tại khu vực bản Hồng Líu, phường N, thành phố Đ, tỉnh B, Lò Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,1 gam Heroine, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 20 giờ 45 phút, ngày 24/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 336/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B.
Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với mục đích để sử dụng của bị cáo Lò Văn L là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Ngày 16/02/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Bản án này bị cáo chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 10/4/2017, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 13/4/2019 bị cáo đã chấp hành xong, đến lần phạm tội lần này được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chấp hành án phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Đối với người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Vật chứng: Đối với 0,08 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu sơn: Xanh - Bạc, biển kiểm soát 27B2-359.27, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà có đủ căn cứ xác định thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn N. Khi bị cáo lấy xe đi mua ma tuý, anh N không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trao trả chiếc xe cho anh N, anh N nhận lại xe không có khiếu nại gì, xét việc trao trả chiếc xe này là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/BLHS.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (24/01/2024).
2. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh giấy bạc màu vàng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thúy Thành |
Bản án số 126/2024/HSST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
