Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỐNG NHẤT

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 05-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Hiểu

Ông Trần Văn Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Vũ K, sinh năm: 2006, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Phước H, sinh năm: 1979 và bà Vũ Thị H1, sinh năm: 1978 chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 25/10/2023 bị Ủy ban nhân dân xã P xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, đã nộp phạt ngày 02/11/2023.

Bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 19/12/2023 đến nay (có mặt).

Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Phước H, sinh năm: 1979 và bà Vũ Thị H1, sinh năm: 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người bào chữa của bị cáo: Bà Hồ Thị Xuân C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ – Chi nhánh T4 (Xin vắng mặt).

2. Họ và tên: Phan Văn D, sinh năm: 1992, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Phan Văn T, sinh năm: 1952 và con bà Bạch Thị M, sinh năm: 1955; Bị cáo Đinh Thị Lệ T1, sinh năm 1991, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án: 01 tiền án: Ngày 08/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2021, nộp án phí và biện pháp tư pháp ngày 27/10/2016.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 24/02/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 10 giờ 25 phút ngày 19/12/2023, Công an huyện T tiến hành kiểm tra hành chính đất rẫy do Phan Văn D quản lý, sử dụng tại Đội 4, ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, phát hiện Nguyễn Vũ K và Nguyễn Như T2, sinh năm 1979, trú ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai dương tính với ma túy Methamphetamine, thu giữ tang vật, cụ thể:

Nguyễn Vũ K đến ở trại gà ở Đ, ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai làm việc cho Phan Văn D. Chiều ngày 18/12/2023, K dùng điện thoại liên lạc với đối tượng có tên “Heo”, số điện thoại 0372.604.xxx hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá và được hẹn giao ma túy ở xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. K hỏi mượn xe mô tô (không rõ biển số, của một người tên T3, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đến điểm hẹn gặp “Heo” mua ma túy và đem về trại gà, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra sử dụng một phần, số còn lại đem giấu vào trong thùng loa của Phan Văn D ở trong trại gà. Đến 23 giờ ngày 18/12/2023, Nguyễn Như T2 chở theo con gái 05 tuổi đến trại gà của Phan Văn D hỏi mua gà đồng thời hỏi xin ngủ lại qua đêm tại tại gà, Phan Văn D đưa cháu bé con gái của T2 lên nhà ngủ cùng vợ của D.

Qua nói chuyện, Nguyễn Vũ K biết được Nguyễn Như T2 cũng sử dụng ma túy đá, K đem ma túy đá ra rủ Nguyễn Như T2 cùng sử dụng, sau đó T2 để bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ở giữa bàn. Lúc này Phan Văn D đi từ trên nhà xuống lán tìm Thuấn nói chuyện thì thấy bộ D1 sử dụng ma túy, bên trong chứa ma túy đá cùng 01 bật lửa ga ở trên bàn cạnh chỗ của Nguyễn Như T2 ngồi. D là đối tượng sử dụng ma túy nên biết đây là ma túy đá và cách sử dụng, nghĩ rằng đây là ma túy của T2 mang đến để sử dụng nên không hỏi là của ai. Sau khi trao đổi việc mua bán gà với Nguyễn Như T2 xong, D nói “các anh chơi đi” (hàm ý rằng chơi ma túy) rồi tiếp tục đi giao gà.

Sáng ngày 19/12/2023, Công an huyện T đến kiểm tra, phát hiện Nguyễn Vũ KNguyễn Như T2 có biểu hiện sử dụng ma túy, K tự nguyện giao nộp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trong còn ma túy đá chưa dùng hết. Phan Văn D biết tin Nguyễn Vũ K bị bắt nên lẩn trốn, bị bắt ngày 24/02/2024.

Quá trình điều tra, Nguyễn Vũ KPhan Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên

Tại Kết luận giám định số 2806/KLGĐ-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng nâu được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0868 gam, loại: Methamphetamine.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 phong bì hoàn lại sau giám định, niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 2806/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Vũ K dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung công.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi 5 plus màu đen của Nguyễn Vũ K, 01 điện thoại hiệu Redmi 12 màu xanh đen của Phan Văn D và 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 promax màu nâu của Nguyễn Như T2, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các bị can.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia của Nguyễn Vũ K dùng vào liên lạc để mua ma túy, hiện K đã làm mất, không thu hồi được.

Tại cáo trạng số 105/CT-VKS-TN ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố Nguyễn Vũ K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Phan Văn D về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Vũ K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Phan Văn D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 23 giờ ngày 18/12/2023, tại trại gà do Phan Văn D quản lý, Nguyễn Vũ K có hành vi tổ chức cho Nguyễn Như T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Lúc này Phan Văn D là đối tượng có tiền án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhìn thấy và biết các đối tượng dùng ma túy trong cơ sở mình quản lý nhưng không ngăn cản, sau đó bị phát hiện, xử lý theo quy định. Như vậy, hành vi của Nguyễn Vũ K thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Phan Văn D thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện T nói riêng có chiều hướng phức tạp với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên thuộc vào trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân các bị cáo là người có học vấn thấp nên nhận thức pháp luật bị hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để các bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.

Bị cáo K tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới được 17 tuổi có nhận thức pháp luật hạn chế nên cần áp dụng các quy định xử phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để áp dụng mức hình phạt phù hợp với đặc điểm nhân thân của bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo D có 1 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên thuộc vào trường hợp tái phạm áp dụng tình tiết tặng nặng khi lượng hình, vào thời điểm xảy ra vụ án khi nhìn thấy K và T2 sử dụng ma túy trong cơ sở mình quản lý nhưng không ngăn cản mà còn dùng lời nói để anh em tiếp tục chơi thể hiện bị cáo mặc nhiên thừa nhận và đồng ý chứa chấp cho K và T2 sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, việc quyết định mức hình phạt của bị cáo D cao hơn bị cáo K như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 255, 256 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...”. Tuy nhiên, do các bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh Đ hoàn lại theo Kết luận giám định số 2806/KL-KTHS ngày 22/12/2023, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Vũ K dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi 5 plus màu đen của Nguyễn Vũ K; 01 điện thoại hiệu Redmi 12 màu xanh đen của Phan Văn D và 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 promax màu nâu của Nguyễn Như T2, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các bị can là phù hợp.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia của Nguyễn Vũ K dùng vào liên lạc để mua ma túy, hiện K đã làm mất, không thu hồi được

[9] về các vấn đề khác:

  • - Liên quan trong vụ án, Nguyễn Như T2 cùng tham gia sử dụng ma túy với Nguyễn Vũ K, tuy nhiên không đóp góp tiền bạc, hay công sức vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 01/5/2024, Công an huyện T đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
  • - Đối với đối tượng có tên “Heo”, sử dụng số điện thoại 0372.604.xxx đã bán ma túy cho Nguyễn Vũ K ở xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả nên chưa có cơ sở xử lý cần tiếp tục xác minh làm rõ.
  • - Về chủ sỡ hữu diện tích đất rẫy trên do Nguyễn Thị L sinh năm 1986, trú tại ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai làm đứng tên chủ sỡ hữu. Bà L cho bà Phan Thị L1 sinh năm 1990, trú ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai - chị gái của D thuê; đến đầu tháng 10/2023, chị L1 giao lại cho vợ chồng D ở và làm trại nuôi gà đá. Việc D dùng thực hiện hành vi phạm tội bà L không biết, nên không có cơ sở xử lý.
  • - Liên quan trong vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ 01 thân súng hơi màu đen có dòng chữ “S – Tiger”, cán cầm bằng gỗ màu nâu, nòng súng số “A4238639” và 01 mã tấu tự chế từ trại gà của Phan Văn D. Kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của phân viện khoa học hình sự tại TP . xác định đây là vũ khí thể thao, tuy nhiên Phan Văn D không có tiền án, tiền sự về hành vi này; 01 mã tấu tự chế thu giữ từ trại gà của Phan Văn D. 02 vũ khí kể trên không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo quy định.

[10] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.

[11] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 58, điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ K 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/02/2024.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh Đ hoàn lại theo Kết luận giám định số 2806/KL-KTHS ngày 22/12/2023, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Vũ K dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ KPhan Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Thống Nhất;
  • - CCTHAHS huyện Thống Nhất;
  • - CCTHADS huyện Thống Nhất;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCSDTPMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger