|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày 05-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 22/5/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Dương Huy C, sinh năm 1990; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12.
Con ông: Dương Đình C1.
Con bà: Dương Thị Đ.
Anh chị em: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Tại Bản án số 371/2013/HSST ngày 16/9/2013 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/3/2013).
Tại bản án số 03/2013/HSST ngày 21/10/2013 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/4/2013). Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của bản án số 371/2013/HSST ngày 16/9/2013 buộc phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 tháng tù; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2017 và chấp hành xong án phí hai bản án năm 2014.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 ngày 30/01/2013, Công an xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029627 ngày 24/02/2021. Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 500.000 đồng về hành vi mua bán số đề.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
2. Họ và tên: Dương Đình T, sinh năm 1987; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông: Dương Văn N.
Con bà: Dương Thị V.
Anh, chị em: Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba.
Vợ: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1989 (đã ly hôn).
Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án:
Tại Bản án số 33/2015/HSST ngày 15/9/2015 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/4/2015).
Tại bản án số 281/2015/HSST ngày 24/9/2015 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Thực hiện hành vi phạm tội ngày 07/02/2015). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án ngày 29/5/2023.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Bị hại: Ông Tống Văn D1, sinh năm 1973; địa chỉ: T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Tống Văn C2, sinh năm 1990; địa chỉ: T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn C3, sinh năm 1997; địa chỉ: T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Huy C, sinh năm 1990, trú tại xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Dương Đình T, sinh năm 1987, trú tại xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên quen biết nhau từ trước. Khoảng 14 giờ 25 phút ngày 15/02/2024, Dương Huy C gọi điện thoại rủ Dương Đình T đi đến thị xã V, tỉnh Bắc Giang xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp, T đồng ý. Sau đó, C mang theo 01 vam phá khóa bằng kim loại, kích thước (8 x 0,6)cm, một đầu tròn, một đầu dẹt, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, D2 (C không nhớ biển kiểm soát) đi từ nhà đến nhà T, chở T ngồi sau xe đi đến thị xã V trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô chở T đi đến khu vực tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-191.76 của anh Tống Văn D1, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đang để ở bãi đất trống cạnh đường giao thông nhưng không có ai trông coi, ông D1 đang làm đồng cách chỗ để xe khoảng 100m. C dừng xe mô tô lại, đưa xe cho T cầm tay lái và đứng cảnh giới, C đi đến xe mô tô của ông D1 thấy xe không khóa càng, chỉ khóa điện nên dùng vam phá khóa mang theo cho vào ổ khóa điện vặn mở khóa. Mở được khóa điện, C đề xe nổ máy, ngồi lên xe điều khiển xe mô tô trộm cắp bỏ đi, còn T điều khiển xe mô tô của C đi sau. Cùng lúc này, ông D1 phát hiện xe mô tô bị trộm cắp thì hô trộm đồng thời chạy bộ đuổi theo để bắt giữ. C điều khiển xe trộm cắp bỏ chạy ra đến ngã tư phường B, nơi giao nhau giữa đường T với Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố số B, phường B thì anh Tống Văn C2, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là người đi đường và ông D1 đuổi kịp bắt giữ được C cùng xe mô tô trộm cắp, còn T điều khiển xe chạy thoát. Sau đó, ông D1, anh C2 báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C cùng vật chứng là xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-191.76; 01 vam bằng kim loại, kích thước (8 x 0,6)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi9T.
Ngày 14/3/2024, Dương Đình T đã đến Công an thị xã V đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, mặt trước màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0962.373.727.
Trong các ngày 15/02/2024 và 14/3/2024, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động thu giữ của C, T; kết quả trong lịch sử cuộc gọi điện thoại của C có cuộc gọi điện đến số thuê bao 0962.373.727 của T vào hồi 14 giờ 27 phút ngày 15/02/2024. Ngày 22/02/2024, Cơ quan điều tra thu giữ được tại camera giám sát giao thông của Công an thị xã V lắp đặt tại tại đường T thuộc địa phận tổ dân phố số B, phường B điều khiển xe mô tô trộm cắp của ông D1 và T điều khiển xe mô tô của C bỏ chạy.
Ngày 14/3/2024, Cơ quan điều tra cho Dương Đình T nhận diện người điều khiển xe mô tô trong Video Cơ quan điều tra thu giữ nêu trên; kết quả T đã nhận ra C điều khiển xe mô tô trộm cắp và T điều khiển xe mô tô của C.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V đã định giá, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-191.76 trị giá 7.500.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem do Dương Huy C và Dương Đình T sử dụng để đi trộm cắp tài sản; quá trình điều tra, C khai mua lại của người không quen biết từ khoảng tháng 9/2023, C không nhớ biển kiểm soát xe. T khai điều khiển xe mô tô của C bỏ chạy về thành phố S, tỉnh Thái Nguyên rồi cho một nam thanh niêm không biết họ, tên, địa chỉ mượn xe, nhưng sau đó người này không trả lại, T cùng không nhớ biển kiểm soát xe. Do đó, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-191.76 là tài sản của ông D1, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông D1,
Đối với điện thoại di động của T dùng liên lạc với C khi đi trộm cắp, Tại phiên tòa, T khai đã nộp cho Cơ quan điều tra khi đầu thú. Đối với chiếc vam phá khóa bằng kim loại thu của C là tài sản đồ vật của bị cáo C nhưng dùng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Huy C và Dương Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Dương Huy C từ 11 đến 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Dương Đình T 10 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi9T và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, mặt trước màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0962.373.727.
Tịch thu tiêu huỷ 01 vam phá khóa bằng kim loại.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại là ông D1 lấy được lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[11] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, bị cáo C thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Dương Đình T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Huy C.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Dương Huy C 11 (mười một) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Dương Đình T 10 (mười) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mi9T và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, mặt trước màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0962.373.727.
Tịch thu tiêu huỷ 01 vam phá khóa bằng kim loại.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Dương Đình T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Huy C.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 126/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
