|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 126/2024/HSST Ngày: 04/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Đình Hoằng
Bà Doãn Thị Lệ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST – HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Châu H, T gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 5 năm 1996 tại Gia Lai;
Nơi đăng ký HKTT: Tổ D, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai và nơi ở: Thuê phòng trọ tại nhà T, thôn P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Duy S, sinh năm 1964 và bà Mai Thị Thu A, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Châu H bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 19/4/2024 sau đó chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lương Thị Yến N, sinh năm 2000. Địa chỉ: P Nhà T, Thôn P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960. Địa chỉ: 2 T, Thôn P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Châu H sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian đầu năm 2024 và ở trọ cùng chị Lương Thị Yến N (sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú: Xã A, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) tại phòng số 15 nhà T, thôn P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Qua các mối quan hệ xã hội, H có quen với người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) là người có sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 11/4/2024, khi H đang đi dạo ở sân bóng làng E, phường Y, thành phố P thì gặp T1. Tại đây, H và T1 nói chuyện với nhau; do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H xin được của T1 02 gói nilon chứa ma túy đá, rồi mang về nhà trọ Nhã P. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi H vừa về tới nhà trọ Nhã P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh G phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 02 (hai) gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định) cùng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen (không có sim) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (kèm sim số)
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 11/4/2024, kết quả xác định: Trần Châu Hải dương t với ma túy loại Methamphetamine
Tại bản Kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của phòng K - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 (hai) gói nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2302 gam"
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.
Bản Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Châu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Châu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Châu H mức án 1 năm 3 tháng đến 1 năm 9 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn niêm phong ghi số 420/PC09 ngày 19/4/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G. Trả lại cho bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen kèm sim số, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen không có sim.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng; người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào bản Kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh G, có đủ cơ sở kết luận: Trần Châu H sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian đầu năm 2024 và có quen biết với người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người có sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 11/4/2024 tại khu vực sân bóng làng E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, đối tượng T1 đã cho H 02 gói nilon bên trong chứa ma túy (loại Methamphetamine); H đã cất giữ với mục đích để sử dụng. Đến 15 giờ cùng ngày, khi H về đến phòng trọ số 15, nhà T, thôn P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh G phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P bắt quả tang cùng vật chứng. Qua giám định, xác định 02 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể mà bị cáo Trần Châu H tàng trữ với mục đích để sử dụng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2302 gam.
Bị cáo Trần Châu H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện đó là lỗi cố ý, bị cáo đã tàng trữ 0,2302 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Châu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hành vi của bị cáo được xác định là tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội.
[4] Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Xét mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy còn lại sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku trong 01 bì công văn niêm phong ghi số 420/PC09 ngày 19 tháng 4 năm 2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (kèm sim số) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen (không có sim) là của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T1 là người mà bị cáo H khai đã cho H ma túy, do H không biết được nhân thân, lai lịch của T1. Cơ quan điều tra cũng đã mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng không xác định được số điện thoại của T1 và không xác định được nội dung cuộc gọi, tin nhắn có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời, đã tiến hành xác minh tại khu vực phường Y, thành phố P nhưng không xác định được đối tượng tên T1 có liên quan đến hoạt động ma túy nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1960) là chủ nhà trọ - nơi bị cáo Trần Châu H thuê ở, việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ thì bà L không biết nên không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với chị Lương Thị Yến N (sinh năm 2000) là bạn gái của bị cáo H và ở chung phòng trọ với bị cáo H. Vào lúc 15 giờ ngày 11/4/2024, khi lực lượng Công an bắt quả tang Trần Châu H đang tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị N không có mặt tại phòng trọ; bản thân chị N không sử dụng ma túy; việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị N không biết nên không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Châu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Châu H 1 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 11/4/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Xử: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì công văn dán kín ghi số 420/PC09 ngày 19/4/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G (Có chữ ký họ và tên của Phan Thanh T2, Nguyễn Đại H1, Bùi Sĩ T3)
- Trả lại cho bị cáo Trần Châu H 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen kèm sim số; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Itel màu đen (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong)
- (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).
- Về án phí:
- Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử buộc bị cáo Trần Châu H phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Quách Đình Hoằng | Doãn Thị Lệ | Nguyễn Thị Hồng Thắm |
Bản án số 126/2024/HSST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 126/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Châu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
