Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST
Ngày 03-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Bùi Đình Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn T, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Đinh Thị Đ; có vợ là Đinh Thị B (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 17/5/2012 của UBND huyện T về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh (đã được xoá); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 09/02/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.

2. Đoàn Văn C, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn L và bà Phạm Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 219/QĐ-TA ngày 10/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa được xoá); nhân thân: Bản án số 62/2006/HSST ngày 08/5/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024. Có mặt.

3. Đặng Khắc H1, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Khắc C1 và bà Phan Thị T2; có vợ là Phạm Thị H2 (đã ly hôn) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 56/2009/HSST ngày 01/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đã xoá án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024. Có mặt.

4. Phạm Văn T3, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn S, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Chu Thị L1; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 84/QĐ-TA ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2012/HSST ngày 12/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Quyết định số 62/2017/QĐ-TA ngày 14/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đều đã được xoá); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Lại Thanh C2, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh Lại Thanh C2 vắng mặt.
  • + Chị Phạm Thị O, sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị O vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Phạm Thị O: Anh Lại Thanh C2, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh Lại Thanh C2 vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Vũ Văn B1, ông Bùi Văn T4, bà Đoàn Thị H3. Ông B1, ông T4 đều vắng mặt, bà H3 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/12/2023, Công an thị trấn M nhận được đơn trình báo của anh Lại Thanh C2, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, Hải Phòng về việc: khoảng 04 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, anh C2 trên đường đi đến khu vực đập M thì phát hiện 01 đối tượng nam giới đi xe đạp điện chở theo sau một số thanh kim loại màu trắng. Do nghi ngờ các thanh kim loại trên là các thanh nhôm của gia đình mình bị mất trộm nên anh C2 đã đi theo. Khi đến khu vực đường N, xã N, huyện T, Hải Phòng đối tượng nam giới phát hiện có người theo sau nên đã ném các thanh kim loại nhôm lại xuống đường và điều khiển xe đạp điện bỏ chạy. Anh C2 kiểm tra tài sản thì phát hiện các thanh nhôm trên đúng là tài sản của gia đình anh bị kẻ gian lợi dụng sơ hở chiếm đoạt mất. Sau đó, anh C2 đã trình báo sự việc và giao nộp các thanh nhôm trên cho Công an thị trấn M để phục vụ điều tra. Sau khi nhận được tin báo Công an thị trấn M đã báo cáo và phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành điều tra, xác minh theo quy định.

Đến 14 giờ ngày 30/12/2023, biết hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện Vũ Văn T đã đến Công an thị trấn M đầu thú và khai nhận đã cùng các đối tượng Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C và Phạm Văn T3 nhiều lần lấy trộm tài sản là các thanh nhôm của một nhà dân tại thị trấn M lấy tiền ăn tiêu.

Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C và Phạm Văn T3 đến làm việc. Đặng Khắc H1 tự nguyện giao nộp 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 16P9-2857 là phương tiện sử dụng để đi chiếm đoạt tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Vũ Văn T, Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C và Phạm Văn T3 khai nhận: Do không có tiền ăn tiêu nên Vũ Văn T, Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C và Phạm Văn T3 đã lợi dụng sơ sở của chủ sở hữu tài sản cùng nhau lén lút chiếm đoạt tài sản của gia đình anh Lại Thanh C2 để bán lấy tiền chi tiêu, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 01/11/2023, T rủ T3 đến nhà anh C2 để lấy trộm tài sản, T3 đồng ý. T điều khiển xe đạp điện của T chở T3 đến nhà anh C2, vào trong kho lấy được 10 thanh nhôm màu trắng có các kích thước khác nhau có tổng khối lượng 48kg; 01 máy cắt bê tông cầm tay kích thước khoảng (22x20x16) cm; 01 máy khoan bê tông cầm tay và 01 máy mài cầm tay kích thước khoảng (30x12x09) cm. Khi T và T3 đang vận chuyển số tài sản trên mang đi tiêu thụ thì bị ông Bùi Văn T4, sinh năm 1958, trú tại: tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, Hải Phòng phát hiện. T và T3 đã vứt lại các tài sản và bỏ chạy. Khoảng 30 phút sau T3 một mình điều khiển xe đạp điện quay lại nhà anh C2, phát hiện chỉ còn các tài sản gồm 01 chiếc máy cắt bê tông cầm tay, 01 chiếc máy khoan bê tông cầm tay và 01 chiếc máy mài vẫn còn để ở trên vỉa hè đối diện nhà anh C2 nên đã lấy và mang đến cửa hàng thu mua phế liệu ở thôn F, xã T, huyện T ông Vũ Văn B1, sinh năm 1961 làm chủ bán được số tiền 230.000 đồng. Số tiền này T3 một mình ăn tiêu hết.

Lần thứ 2: Khoảng 01 giờ 30 ngày 25/11/2023, T rủ H1 đến nhà anh C2 để lấy trộm tài sản, H1 đồng ý. T điều khiển xe đạp điện của T, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 16P9-2857 đến nhà anh C2. T và H1 vào trong kho nhà anh C2 lấy được nhiều thanh nhôm màu trắng có các kích thước khác nhau. Sau đó T và H1 mang số nhôm trên đến cửa hàng T5 phế liệu ở thôn A, xã N, huyện T bà Đoàn Thị H3, sinh năm 1958 làm chủ cân được tổng khối lượng 79kg và bán được số tiền 3.000.000 đồng. Số tiền trên T và Hoàng chia nhau ăn tiêu hết.

Lần thứ 3: Khoảng 02 giờ ngày 01/12/2023, H1 rủ T đến nhà anh C2 lấy trộm, T đồng ý và rủ thêm C đến nhà anh C2. T điều khiển xe đạp điện chở C, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 16P9-2857 đến nhà anh C2. Tại kho nhà anh C2, H1, T, C đã lấy được khoảng 35 thanh kim loại nhôm màu trắng có các kích thước khác nhau có tổng khối lượng khoảng 131kg mang đến bán cho bà H3 được số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền có được H1, T, C chia nhau tiêu sài hết.

Lần thứ 4: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, cũng tương tự như lần thứ 3, H1, T, C đến nhà anh C2 lấy được khoảng 20 thanh kim loại nhôm màu trắng có các kích thước khác nhau có tổng khối lượng khoảng 79kg mang bán cho bà H3 được số tiền 3.000.000 đồng chia nhau tiêu sài hết.

Lần thứ 5: Khoảng 02 giờ ngày 16/12/2023, C rủ T đến nhà anh C2, đi ra phía khu vực vườn nhà anh C2 lấy được khoảng 20 thanh nhôm có các kích thước khác nhau, có tổng khối lượng khoảng 79kg mang bán cho bà H3 được số tiền 3.000.000 đồng chia nhau tiêu sài hết.

Lần thứ 6: Khoảng 03 giờ ngày 20/12/2023, C rủ T đến nhà anh C2 lấy được 19 thanh nhôm hình hộp chữ nhật và hình dẹt có tổng khối lượng 96kg. Trên đường C và T mang số nhôm trên đi tiêu thụ thì bị anh C2 phát hiện, T đã vứt các thanh nhôm trên xuống đường rồi bỏ chạy.

Sau khi biết hành vi trộm cắp tài sản nhà anh C2 bị phát hiện các đối tượng cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường số tiền 16.820.000 đồng, trong đó: Vũ Văn T nộp 5.960.000 đồng, Đoàn Văn C nộp 4.380.000 đồng, Đặng Khắc H1 nộp 4.380.000 đồng và Phạm Văn T3 nộp 2.100.000 đồng. Hiện Vũ Văn T, Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C và Phạm Văn T3 vẫn ăn ở và sinh sống cùng gia đình. Việc cùng nhau trộm cắp tài sản chỉ nhằm mục đích bán lấy tiền ăn tiêu không phải là nguồn sống chính.

Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

- 512 kg nhôm đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 20.480.000 đồng (hai mươi triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

- 01 chiếc máy cắt bê tông cầm tay kích thước (22x20x16) cm đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng).

- 01 chiếc máy khoan bê tông cầm tay kích thước dài 40 cm phần thân bằng kim loại, phần tay cầm trợ lực phía trước bọc cao su màu đen, phần tay cầm phía sau bằng nhựa đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

- 01 chiếc máy mài cầm tay kích thước (30x12x9) cm đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) (bút lục số 63-64).

Bị hại là anh Lại Thanh C2 khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên và tự nguyện giao nộp 19 thanh kim loại nhôm màu trắng hình hộp chữ nhật và hình dẹt có các kích thước khác nhau là tài sản bị các đối tượng chiếm đoạt ngày 20/12/2023. Số nhôm bị chiếm đoạt là tài sản của anh, năm 2020 anh C2 chuyển nhà nên đã tháo dỡ các thanh nhôm trên mang về cất ở kho và mang để ngoài vườn, anh yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị các tài sản thực bị mất theo giá trị định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T. Anh C2 đã nhận được Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra nhưng anh C2 chưa có nhu cầu nhận lại tiền ngay, mà để sau này Tòa án xét xử sẽ tuyên trả sau.

Bà Đoàn Thị H3 và ông Vũ Văn B1 khai nhận khi mua các thanh kim loại nhôm và 3 chiếc máy trên đều không biết là tài sản do các đối tượng phạm tội mà có. Sau khi mua, đã bán lại cho người không biết tên, tuổi, địa chỉ.

Vật chứng của vụ án:

- Số tiền 16.820.000 đồng do gia đình các bị cáo tự nguyện nộp bồi thường cho bị hại, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 16P9-2857, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Phan Thị T2, sinh năm 1960, nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện T (là mẹ đẻ của Đặng Khắc H1), bà T2 không biết H1 sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Thanh quản 1, sử dụng. Vũ Văn T và Phạm Văn T3 khai nhận sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà anh C2 đã bán chiếc xe đạp điện mà các đối tượng sử dụng để đi trộm cắp.

- Đối với 19 thanh kim loại nhôm do anh Lại Thanh C2 giao nộp, sau khi thực hiện các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lại Thanh C2.

Vấn đề dân sự: Anh C2 yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị các tài sản thực bị mất theo giá trị định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T.

Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKSTN ngày 23 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, xác định: Lời khai tại cơ quan điều tra là đúng, các bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ép cung, mớm cung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng. Các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O số tiền là 16.820.000 đồng, không yêu cầu chia kỷ phần cho từng bị cáo, các bị cáo tự giải quyết với nhau. Riêng bị cáo Vũ Văn T khai bị cáo làm nghề tự do, thu nhập một tháng từ 5 đến 6 triệu đồng, bị cáo trộm cắp tài sản tiêu sài cá nhân, không làm nguồn sống chính.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T3;

Xử phạt:

  • - Bị cáo Vũ Văn T: Từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
  • - Bị cáo Đoàn Văn C: Từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
  • - Bị cáo Đặng Khắc H1: Từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
  • - Bị cáo Phạm Văn T3: Từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về dân sự (bồi thường thiệt hại) và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Các bị cáo đã tác động gia đình và nộp số tiền 16.820.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Số tiền này đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên do đó anh Lại Thanh C2 và chị Phạm Thị O được nhận số tiền 16.820.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007981 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của bị hại: Bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Chị Phạm Thị O đã uỷ quyền cho anh Lại Thanh C2, anh Lại Thanh C2 đã có lời khai đầy đủ tại giai đoạn điều tra. Việc xét xử vắng mặt bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận các bị cáo có hành vi như sau:

[3.1] Trong khoảng thời gian từ ngày 01/11/2023 đến ngày 20/12/2023, lợi dụng sự sơ hở của bị hại là anh Lại Thanh C2 và chị Phạm Thị O, các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 cùng chung ý chí đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O là 01 chiếc máy cắt bê tông cầm tay, 01 chiếc máy khoan bê tông cầm tay, 01 chiếc máy mài cầm tay và 512 kg nhôm có tổng trị giá là 22.580.000 đồng, cụ thể trong đó:

[3.2] Vũ Văn T cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O 06 lần vào các ngày 01/11/2023 (Vũ Văn T và Phạm Văn T3), 25/11/2023 (Vũ Văn T và Đặng Khắc H1), 01/12/2023, 10/12/2023 ( Vũ Văn T, Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C), 16/12/2023 và 20/12/2023 (Đoàn Văn C và Vũ Văn T) với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 22.580.000 đồng (4.020.000 đồng + 3.160.000 đồng + 5.240.000 đồng + 3.160.000 đồng + 3.160.000 đồng + 3.840.000 đồng).

[3.3] Đoàn Văn C cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O 04 lần vào các ngày 01/12/2023, 10/12/2023 (Vũ Văn T, Đặng Khắc H1, Đoàn Văn C), 16/12/2023 và 20/12/2023 (Đoàn Văn C và Vũ Văn T) với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.400.000 đồng (5.240.000 đồng + 3.160.000 đồng + 3.160.000 đồng + 3.840.000 đồng).

[3.4] Đặng Khắc H1 cùng các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O 03 lần vào các ngày 25/11/2023, 01/12/2023, 10/12/2023 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.560.000 đồng (3.160.000 đồng + 5.240.000 đồng + 3.160.000 đồng);

[3.5] Phạm Văn T3 cùng với Vũ Văn T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O 01 lần vào ngày 01/11/2023 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.020.000 đồng.

Chính vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Hành vi của các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng nên các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố, kết luận là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Riêng đối với bị cáo Vũ Văn T có 06 lần trộm cắp, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng bị cáo Vũ Văn T không lấy việc trộm cắp tài sản là nguồn sống chính, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn nên không áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Có tính chất chuyên nghiệp” đối với bị cáo Vũ Văn T.

[4] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về vai trò: Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò để đánh giá về hình phạt. Trong vụ án này, bị cáo Vũ Văn T là người khởi xướng đầu tiên để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo trực tiếp tham gia toàn bộ tất cả các lần trộm cắp tài sản, thực hành tích cực. Do đó vai trò của bị cáo là cao nhất trong vụ án. Bị cáo Đoàn Văn C là người tham gia 04 lần trộm cắp, ít hơn bị cáo Vũ Văn T 02 lần, bị cáo có hai lần là người khởi xướng, thực hành tích cực, do đó vai trò của bị cáo thấp hơn bị cáo Vũ Văn T. Bị cáo Đặng Khắc H1 là người tham gia 03 lần trộm cắp, ít hơn bị cáo Đoàn Văn C 01 lần, bị cáo có 02 lần khởi xướng việc trộm cắp, thực hành tích cực. Do đó vai trò của bị cáo Đặng Khắc H1 thấp hơn bị cáo Đoàn Văn C. Bị cáo Phạm Văn T3 là người có vai trò thấp nhất, bị cáo tham gia 01 lần trộm cắp, được bị cáo Vũ Văn T rủ, thực hành tích cực.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Vũ Văn T đã từng bị Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng biện pháp đưa đối tượng nghiện ma tuý vào cơ sở chữa bệnh, đã được xoá. Bị cáo Đoàn Văn C đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa được xoá, có một tiền án đã được xoá về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Đặng Khắc H1 có một tiền án đã được xoá về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Phạm Văn T3 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong đó có 01 lần chưa được xoá, một tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã được xoá. Điều này thể hiện các bị cáo đều là người có nhân thân không tốt.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mỗi lần các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C và Đặng Khắc H1 trộm cắp tài sản đều trên 2.000.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C và Đặng Khắc H1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; các bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Phạm Văn T3 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Văn T sau khi phạm tội đã đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[9] Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo Vũ Văn T có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn các bị cáo Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1. Tuy nhiên vai trò của bị cáo Vũ Văn T cao hơn bị cáo Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1, ngoài ra bị cáo trốn truy nã nên gây khó khăn cho việc điều tra. Do đó, mức hình phạt của bị cáo Vũ Văn T cao hơn bị cáo Đoàn Văn C và Đặng Khắc H1. Các bị cáo Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhau, nhưng vai trò của bị cáo Đoàn Văn C cao hơn bị cáo Đặng Khắc H1 nên mức hình phạt của bị cáo Đoàn Văn C cao hơn bị cáo Đặng Khắc H1. Bị cáo Phạm Văn T3 có mức hình phạt thấp nhất bởi lẽ vai trò bị cáo thấp nhất, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhất.

[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền với mức phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội và hoàn cảnh của các bị cáo, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về dân sự (bồi thường thiệt hại) và xử lý vật chứng:

[11] Theo kết luận định giá tài sản, tổng số tài sản mà bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O bị chiếm đoạt trị giá 22.580.000 đồng, trong đó có 10 thanh kim loại, tương ứng với 48kg, trị giá 1.920.000 đồng do anh Lại Thanh C2 đã nhận lại và tự bán, còn 19 thanh kim loại tương ứng 96 kg, trị giá 3.840.000 đồng đã trả lại cho bị hại. Do đó, trị giá tài sản của bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O chưa được khắc phục là 16.820.000 đồng. Chính vì vậy, buộc các bị cáo liên đới phải bồi thường số tiền trên cho anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O và được chia theo kỷ phần cho mỗi bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp số tiền 16.820.000 đồng (gia đình bị cáo Đặng Khắc H1 là 4.380.000 đồng, gia đình bị cáo Phạm Văn T3 là 2.100.000 đồng, gia đình bị cáo Vũ Văn T là 5.960.000 đồng, gia đình bị cáo Đoàn Văn C là 4.380.000 đồng) bồi thường cho bị hại, hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên đang quản lý số tiền này. Các bị cáo tại phiên toà đều đồng ý bồi thường cho anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O số tiền 16.820.000 đồng mà gia đình các bị cáo đã nộp, không yêu cầu Toà án giải quyết về chia kỷ phần của từng bị cáo phải bồi thường, các bị cáo xin tự giải quyết với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, việc các bị cáo đề nghị như trên là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức nên được chấp nhận. Mặt khác số tiền gia đình các bị cáo tự nguyện nộp để bồi thường bằng đúng số tiền mà các bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đến việc chia kỷ phần của các bị cáo để bồi thường cho bị hại. Anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O được nhận số tiền 16.820.000 đồng mà gia đình các bị cáo đã nộp.

[12] Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 16P9-2857, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Phan Thị T2, sinh năm 1960, nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện T (là mẹ đẻ của Đặng Khắc H1), bà T2 không biết H1 sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Thanh quản 1, sử dụng. Vũ Văn T và Phạm Văn T3 khai nhận sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà anh C2 đã bán chiếc xe đạp điện mà các đối tượng sử dụng để đi trộm cắp. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[13] Đối với 19 thanh kim loại nhôm do anh Lại Thanh C2 giao nộp, sau khi thực hiện các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lại Thanh C2. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[14] Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các bị cáo đã khắc phục bồi thường thiệt hại toàn bộ nên các bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về các nội dung khác:

[15] Trong vụ án này ông Vũ Văn B1 và bà Đoàn Thị H3 có hành vi mua lại các tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên ông B1 và bà H3 không biết nguồn gốc tài sản là do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Đối với nội dung này Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T3;

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt:

  • - Bị cáo Vũ Văn T: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2024.
  • - Bị cáo Đoàn Văn C: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
  • - Bị cáo Đặng Khắc H1: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
  • - Bị cáo Phạm Văn T3: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.

2. Về dân sự (bồi thường thiệt hại) và vật chứng: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Văn C, Đặng Khắc H1 và Phạm Văn T3 phải liên đới bồi thường cho bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O số tiền 16.820.000 đồng. Các bị cáo đã nộp số tiền 16.820.000 đồng để bồi thường cho bị hại (hiện đang được Cơ quan thi hành án dân sự huyện T quản lý). Như vậy, các bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi thường 16.820.000 đồng cho bị hại là anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O. Bị hại là anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O được nhận số tiền 16.820.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007981 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại anh Lại Thanh C2, chị Phạm Thị O được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1 - TAND tối cao;
  • - Phòng KTNV và THA TAND huyện Thủy Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên;
  • - Sở tư pháp huyện Thủy Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự huyện Thủy Nguyên;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS; THS.

Phiếu gửi bảo đảm bản án hình sự sơ thẩm số 88 ngày 14/7/2022 (Phùng Hoài Ngọc – TK Hằng)

- TAND cấp cao tại Hà Nội; địa chỉ: Số A, Phạm Văn B2, phường Y,Cầu Giấy, Hà Nội ; RG 186 302 241 V

- VKSND cấp cao tại Hà Nội; địa chỉ: Số I, P, phường Y,C ầu Giấy, Hà Nội ; RG 186 302 238 V

- Vụ Giám đốc kiểm tra 1 - TAND tối cao; địa chỉ: Số D L, B, Hà Nội. RG 186 302 255 V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Thuỷ + đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger