Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số:126/2025/HS-ST

Ngày: 18-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Ngọc Hòa - Giáo viên hưu trí phường Trần Phú, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  2. Bà Trần Thị Phối- Cán bộ hưu trí phường Trần Phú, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nhất-Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/HSST ngày 09/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 26/5/2025 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 98/2025/TB-TA ngày 10/6/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ý N, giới tính: Nữ, sinh năm 2004 tại phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: 38 V, thành phố Q, tỉnh Bình Định;Nơi cư trú: Tổ H, khu phố G, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha đẻ: Không rõ; Con bà Nguyễn Thị Thảo H, sinh năm 1980; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Bị hại:

Em Đặng Vũ Thục U, sinh ngày 30-9-2007; trú tại: Tổ C, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi em Đặng Vũ Thục U:

Bà Vũ Thị Mai H1, sinh năm 1973 (là mẹ đẻ của em U); trú tại: Tổ C, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt; (Em U và bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Vũ Thị Mai H1, sinh năm 1973; Trú tại: Tổ C, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt (Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Thảo H, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ H, khu phố G, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/12/2024, Nguyễn Thị Ý N đi bộ đến khu tiếp giáp đường D - N thuộc tổ H, khu phố G, phường T, thành phố Q, thấy có một nhóm học sinh đang tập nhảy, bên cạnh có nhiều ba lô để trên bệ đá màu đen, không có ai trong coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nhi lén lút lại gần, lấy một cái ba lô để ngoài cùng (màu hồng, nhãn hiệu VANWALK) của Đặng Vũ Thục U (sinh năm2007, trú: Tổ C, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định) rồi rời đi về hướng đường D về nhà cất giấu. Trong ba lô có: 01(một) điện thoại di động hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, dung lượng 256GB, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, dung lượng 256GB, 02 quyển vở học sinh, loại 200 trang, nhãn hiệu Hồng Hà và H, 02 (hai) cây bút bi, hiệu Thiên Long. Phát hiện bị mất tài sản, Đặng Vũ Thục U trình báo sự việc Công an phường N

Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, dung lượng 256GB, số IMEI: 350108728823250, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
  • 01 (một) điện thoại di động OPPO A93, màu đen, dung lượng 256GB, số IMEI: 354829091409106, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
  • 01 (một) ba lô đeo lưng màu hồng, nhãn hiệu VANWALK, kích thước (dài 37cm; rộng 34cm; dày 16cm) đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
  • 02 (hai) cây bút bi nhãn hiệu Thiên Long, loại TL-027, chiều dài mỗi cây là 14cm, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 3.000 đồng (Ba nghìn đồng).
  • 01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu Hồng Hà, loại 4 ô ly ngang, 200 trang, kích thước (17,5x2,5) cm, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 5.000 đồng (Năm nghìn đồng).
  • 01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu Hưng Long, loại 4 ô ly ngang, 200 trang, kích thước (17,5x2,5) cm, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 31/12/2024 là 5.000 đồng (Năm nghìn đồng).

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã tạm giữ và xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu giao trả lạicho em Đặng Vũ Thục U: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, dung lượng 256GB, số IMEI: 350108728823250; 01 (một) điện thoại di động OPPO A93, màu đen, dung lượng 256GB, số IMEI: 354829091409106; 01 (một) ba lô đeo lưng màu hồng, nhãn hiệu VANWALK; 02 (hai) cây bút bi nhãn hiệu T, dài 14cm; 01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu Hồng Hà, 200 trang; 01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu HTX H2, 200 trang.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại em Đặng Vũ Thục U đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, em U và người đại diện hợp pháp của em U là bà Vũ Thị Mai H1 (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSQN ngày 08/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ý N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Ý N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại gì về các quyết định cũng như các hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị Ý N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt, nhiều năm là học sinh khá và giỏi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn;Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụngkhoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ06đến09tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng, không xem xét giải quyết.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Thị Ý N thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáoNguyễn Thị Ý Nhi nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật,hối hận về hành vi của mình và xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạtvà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tiếp tục đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ý N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Thị Ý N có đầy đủ sức khỏe, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng do tham lam, xem thường pháp luật, để có tiền tiêu xài bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản nên vào khoảng 17 giờ 00 ngày 31/12/2024 tại tổ H, khu phố G, phường T, TP Q, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của em Đặng Vũ Thục U: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, dung lượng 256GB, trị giá 28.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động OPPO A93, màu đen, dung lượng 256GB, trị giá 1.500.000 đồng, 01 (một) ba lô đeo lưng màu hồng, nhãn hiệu VANWALK, trị giá 100.000 đồng, 02 (hai) cây bút bi nhãn hiệu Thiên Long, loại TL-027, dài 14cm, trị giá 3.000 đồng,01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu Hồng Hà, 200 trang, trị giá 5.000 đồng, 01 (một) quyển vở học sinh nhãn hiệu HTX H2, 200 trang, trị giá 5.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 29.613.000 đồngđược xác định tại Bản kết luận định giá tài sảnsố 18/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Q. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Ý N1 phạm vào tội "Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ý N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi do bị cáo Nguyễn Thị Ý N gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phươngnên xử phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị Ý N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương); Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là học sinh còn đang đi học nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6]Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là học sinh, không có nghề nghiệp thu nhập gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:Bị hại em Đặng Vũ Thục U đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, em U và người đại diện hợp pháp của em U là bà Vũ Thị Mai H1 (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về vấn đề khác: Bà Nguyễn Thị Thảo H (là mẹ đẻ của bị cáo N), sống chung nhà với bị cáo N nhưng bà H không biết, không bàn bạc và không hưởng lợi gì từ việc trộm cắp tài sản vào ngày 31/12/2024 của bị cáo N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

[10] Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên về đề nghị xử phạt hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là chưa phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ý N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ý N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ý N phải chịu 200.000đồng(Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáovà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quancó mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanvắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Định;

- VKS ND tỉnh Bình Định

- VKSND Tp. Quy Nhơn;

- Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;

- CQ CSĐT CA tỉnh Bình Định;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Định;

- Bị cáo; Đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 126/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger