TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 126/2025/HS-ST Ngày: 13-6-2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Đặng.
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh L, sinh năm 1988 tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nơi ở: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh H (đã chết); bị cáo có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất là bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 03/4/2013, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích" theo Bản án số 55/2013/HSST (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/10/2016 và án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/8/2013).
Ngày 07/9/2024, bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố B) cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh L là đối tượng nghiện ma tuý (ma tuý loại methamphetamine) từ đầu năm 2023 đến nay. Nguồn ma túy L có sử dụng là mua của H1 (không rõ lai lịch).
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, L đang ở nhà tại ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì H1 đến uống bia cùng với L. Lúc này, L có nhu cầu sử dụng ma tuý nên hỏi H1 có ma tuý thì bán cho L, H1 đồng ý và bán cho L 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý với giá 600.000 đồng. L lấy gói ma tuý cất giấu trong túi phía trước, bên phải chiếc quần L đang mặc rồi tiếp tục uống bia với H1 đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô 01 xe mô tô biển số 61H1-488.33, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 đi từ nhà của L đến đoạn đường H thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì gặp Nguyễn Hữu P1 (sinh năm 1994; nơi thường trú: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang) và Nguyễn Minh T (nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh) nên L rủ P1 và T đi hát karaoke. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/9/2024, khi L điều khiển xe mô tô biển số 61H1-488.33 chở P1 và T đi đến đoạn đường N thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải L đang mặc có 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. L khai nhận đây là ma tuý L mua nhằm mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 61H1-188.33, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061.
Theo Kết luận giám định số 4286 ngày 15/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng (bị thu giữ) gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,5436 gam ma tuý, loại Methamphetamine.
Về xử lý vật chứng đối với 01 xe mô biển số 61H1-488.33, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061. Theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 18/9/2024 của Công an thành phố B xác định: Biển số 61H1-488.33 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiciter, số khung: RLCUG1010KY100799, số máy: G3D4E867234 là tài sản do bà Bùi Thị H2 (sinh năm 1967; nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương) đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2019, bà H2 sử dụng xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiciter, biển số 61H1-488.33 số khung: RLCUG1010KY100799, số máy: G3D4E867234 thì bị mất biển số nên đã làm thủ tục cấp lại biển số xe. Khoảng cuối năm 2019, bà H2 bán xe mô tô cho người làm chung công ty. Theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 28/10/2024 của Công an thành phố B xác định: xe mô tô có số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 là tài sản do anh Lưu Chí T1 (sinh năm 1982; nơi thường trú: Ấp X, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau) đứng tên chủ sở hữu. Anh T1 mua xe năm 2018, sử dụng xe đến năm 2019 thì không có nhu cầu sử dụng nữa nên bán xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu của 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 và 01 biển số 61H1-488.33 nhưng chưa có kết quả.
Cáo trạng số 139/CT-VKSBC ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo như sau:
Truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh L mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) 09 (chín) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 61H1-488.33; 01 bì thư được niêm phong ghi số 4286/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Trần Thanh L (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Tấn Đ (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký Nhan Thái H3 (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng K công an tỉnh B.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 (xe không gương, không khóa, không bửng, không cần số, xe cũ nát. Tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 139/CT-VKSBC ngày 19/5/2025. Bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 07/9/2024, tại đoạn đường N thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an phát hiện Trần Thanh L có hành vi tàng trữ trái phép 0,5436 gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo biệt rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hành vi, nhân thân, mức độ lỗi của bị cáo mà có mức hình phạt tương xứng.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Ngày 03/4/2013, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích" theo Bản án số 55/2013/HSST (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/10/2016 và án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/8/2013).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Do đó, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Đối với 01 biển số 61H1-488.33 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bì thư chứa vật mẫu sau giám định có khối thượng 0.5010 gam ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong ghi số 4286/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Trần Thanh L (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Tấn Đ (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký Nhan Thái H3 (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng K công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 (xe không gương, không khóa, không bừng, không cần số, xe cũ nát. Tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thanh Lộc T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 7/9/2024.
- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư chứa vật mẫu sau giám định có khối thượng 0.5010 gam ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong ghi số 4286/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Trần Thanh L (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Tấn Đ (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký Nhan Thái H3 (cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng K công an tỉnh B và 01 biển số 61H1-488.33.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, số khung: VMEPCG00211012541, số máy: SD013061 (xe không gương, không khóa, không bừng, không cần số, xe cũ nát. Tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát và Công an tỉnh B).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 126/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 126/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh L phạm tội tàng trữ trái phép chât ma túy
