Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HS-ST

Ngày 05-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu;

Ông Mai Văn Ngọc;

Bà Hoàng Thị Thoan;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diểm Ý - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hưng Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Vũ Đ, tên gọi khác: không có; sinh ngày 25/10/1990 tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn A, xã H, thành phố Hà Nội (xã A, huyện M, thành phố Hà Nội cũ); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953; có vợ Bùi Thị M, sinh năm 1997 (đã ly hôn); có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Luật sư Trần Đức A - Văn phòng L và cộng sự; địa chỉ: đường L, khu phố I, phường N, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đức Anh T1, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn C, xã H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Hồ Văn X, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 15/10/2024, tại Km42+952 Quốc lộ I, thuộc địa phận khóm K, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn K, xã Đ, tỉnh Quảng Trị), Tổ công tác Công an huyện Đ (cũ) phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Vũ Đ về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” đồng thời thu giữ toàn bộ tang vật. Quá trình điều tra Trần Vũ Đ khai nhận:

Trần Vũ Đ là người không có việc làm ổn định, vì vậy Đ thường xuyên lên các trang mạng xã hội để tìm thông tin về việc làm. Trước khi bị bắt khoảng 1 tháng, khi đang truy cập trên ứng dụng Telegram thì Đ làm quen với một người đàn ông tên T2 có tài khoản “Kiêu Ngạo” và có hỏi về việc làm thì người này nói đang làm ăn tại Lào, cần thuê người vận chuyển hàng hóa, có gì thì liên hệ sau. Ngày 14/10/2024, người này nhắn tin bảo Đ đón xe khách vào Cửa khẩu L, tỉnh Quảng Trị để vận chuyển hàng hóa với tiền công vận chuyển là 10.000.000 đồng (trả trước 5.000.000 đồng khi nhận hàng, xong việc sẽ trả thêm 5.000.000 đồng), Đ đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ đón xe Quang D đi từ Hà Nội vào Quảng Trị. Khi đang ngồi trên xe khách, T2 gửi số điện thoại 0868747473 (số điện thoại của anh Lê Đức Anh T1 - là lái xe dịch vụ), đề nghị Đương khi vào Quảng Trị thì xuống xe ở cửa hàng xăng dầu Làng V đồng thời trong quá trình vận chuyển hàng thì gọi xe để chở. Sau đó, Đ liên lạc với anh T1 và thống nhất ngày 15/10/2024 đặt thuê xe 04 chỗ, đi từ H về Đ và ngược lại, giá 900.000₫.

Sáng 15/10/2024, Đ đi đến thành phố Đ (cũ), rồi theo Quốc lộ I đi lên Cửa khẩu quốc tế L1. Trên đường đi, Đ nhắn tin cho T2 qua ứng dụng Telegram, rồi theo hướng dẫn của T2, Đ xuống xe ở cửa hàng xăng dầu Làng V, đi bộ lên hướng Cửa khẩu Quốc tế L1, rẽ sang đường vào thủy điện L2. Trong quá trình đi bộ Đ gọi điện thoại cho xe dịch vụ đến đón tại khu vực đường vào thủy điện L. Đi bộ khoảng 500 mét thì Đ gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch). Người này nói: “Đưa ba lô cho tôi, ở đây đợi, tôi đi lấy hàng”. Đương biết người đàn ông trên là người của T2 nên ném ba lô màu đen của Đ xuống nền đất, người đàn ông nhặt ba lô và đi bộ đến vị trí cách Đ đứng khoảng 20m đến 30m, gặp một người đàn ông đi xe mô tô hiệu Sirius màu đen - đỏ, không rõ biển kiểm soát, hai người đó trao đổi nói chuyện với nhau một lúc thì người chạy xe máy chạy đến chở Đ lên Q rồi quay lại hướng thủy điện L2. Một lúc sau, người đàn ông nhận ba lô của Đ đi bộ đến gặp Đ và nói “Ba lô của ông bỏ gần hòn đá giữa đường, xuống đó mà lấy” rồi bỏ đi. Theo hướng dẫn của người này, Đ đi bộ khoảng 20 mét, thấy ba lô của mình đang để ở bên đường nên Đ xách lên thì thấy ba lô nặng hơn lúc trước và bên cạnh ba lô có số tiền 4.000.000đ. Đ nhặt tiền cất vào túi sau bên phải quần đang mặc và xách ba lô đi bộ ra hướng Quốc lộ 9.

Ra đến Quốc Lộ 9, Đ đứng chờ một lúc thì anh Hồ Văn X (sinh năm: 2001, trú tại: xã T, tỉnh Quảng Trị), là nhân viên lái xe dịch vụ của anh Lê Đức A1 Tiếu điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát: 34A- 412.06 đến để đón Đương theo thỏa thuận từ trước. Đ lên xe và bảo tài xế chở về thành phố Đ. Khi Đ đang trên xe, T2 nhắn tin qua tài khoản Telegram “Kiêu Ngạo” yêu cầu đưa hàng về địa chỉ F L, thành phố Đ rồi gọi điện để được hướng dẫn giao hàng. Sau đó, T2 gọi cho Đ và hỏi “Lên xe chưa?”, Đ trả lời: “Lên xe rồi”, T2 hỏi: “Xe màu đen à, hãng gì?”, Đ trả lời: “Xe màu đen, hãng H1 hay sao á, không rõ?”. Sau khi ngửi thấy mùi lạ từ ba lô, Đ gọi bằng Telegram cho T2 hỏi: “Hàng gì?”, T2 trả lời “Pháo”, Đ hỏi: “Pháo sao nhẹ thế?”,T2 nói: “Có đồ linh tinh nữa”, Đ tiếp tục hỏi: “Hàng linh tinh là hàng gì?”,T2 nói: “Ngựa”, Đ hỏi: “Ngựa là gì?”, T2 nói: “Giống như kẹo, là ma túy tổng hợp”, Đ nói: “Nhiều không?”, T2 trả lời: “Ít thôi, tầm vài nghìn viên”, Đ nói: “Đi như thế này có sao không?”, T2 nói: “Yên tâm, có người dò đường rồi”. Đương yên tâm về lời đảm bảo của T2 nên tắt máy và tiếp tục vận chuyển ma túy về Đ.

Khi xe về đến Km42+952 Quốc lộ I thuộc địa phận xã Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng Công an huyện Đ đón, kiểm tra và phát hiện bắt quả tang Trần Vũ Đ cùng toàn bộ tang vật, đồng thời kiểm tra tại túi quần phía sau bên phải mà Đ đang mặc có số tiền 4.000.000 đồng là tiền công vận chuyển ma túy mà Đ đã nhận trước.

Tại bản Kết luận giám định số:1128 /KL- KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

  • Mẫu các viên nén màu hồng được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu MT gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng là 1.139,87g (Một một ba chín phẩy tám bảy gam).
  • Mẫu các viên nén màu xanh được niêm phong trong túi ký hiệu MT gửi giám định có khối 11,03g (Mười một phẩy không ba gam). Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong các viên nén màu xanh.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Tại bản kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 08 tháng 11 năm 2024 kết luận: 08 tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật, do Ngân hàng N phát hành.

Bản Cáo trạng số 150/CT-VKSQT-P1 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố Trần Vũ Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự (được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025).

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bị cáo Trần Vũ Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”; áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vũ Đ 20 năm tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3

  • + Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định; 01 ba lô màu đen;
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền mặt 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

* Luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo:

- Về tội danh: Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó Luật sư đồng ý với cáo trạng của VKSND tỉnh truy tố, xét xử bị cáo Trần Vũ Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải giúp quá trình điều tra được nhanh chóng nên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo có bố là thương binh hạng 2/4, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba nên đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án 20 năm tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, có bố là thương binh và được tặng nhiều Huân chương. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người bảo chữa và người tham gia tố tụng khác: Bị cáo đồng ý việc Luật sư xin xét xử vắng mặt và đã có luận cứ bào chữa cho bị cáo; người có QLNVLQ và người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 291 BLTTHS để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  3. Xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 15/5/2024, tại Km42+952 Quốc lộ I, thuộc địa phận khóm K, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn K, xã Đ, tỉnh Quảng Trị), Tổ công tác Công an huyện Đ (cũ) phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Vũ Đ khi đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số:1128 /KL- KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu MT gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 1.139,87g (Một một ba chín phẩy tám bảy gam).

Như vậy, Viện kiểm sát truy tố và TAND tỉnh Quảng Trị xét xử bị cáo Trần Vũ Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc vận chuyển chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm mục đích được trả tiền công vận chuyển. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
  2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • Về tình tiết tăng nặng: không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, là thương binh hạng 2/4; được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; một mình nuôi con nhỏ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
  1. Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
  2. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Đối với các đối tượng liên quan khác: Đối tượng tên T2 (người mà Đương quen trên ứng dụng Telegram), theo lời khai của Trần Vũ Đương T3 T2 là người đã gọi điện thoại và chỉ đạo Đ nhận số ma túy vào ngày 15/10/2024 rồi vận chuyển ma túy từ thủy điện L2 về thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường N, tỉnh Quảng Trị) để giao cho một người lạ mặt. Quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể của T2 nên chưa đủ căn cứ để xác định được Trung liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Vũ Đ vì vậy không xem xét xử lý.

5

- Đối với Lê Đức Anh T4 là chủ sở hữu xe ô tô DAEWOO, màu đen, biển kiểm soát 34A-412.06; Lê Đức Anh T1 là người được bị cáo Đ đặt vấn đề thuê xe đón và chở Đ; Hồ Văn X là tài xế lái xe ô tô, biển kiểm soát 34A-412.06 chở bị cáo Đ. Theo kết luận điều tra xác định, Lê Đức Anh T4 giao xe ô tô biển kiểm soát 34A-412.06 cho em ruột là Lê Đức A1 Tiếu kinh doanh dịch vụ vận tải; Tiếu thuê X lái xe chở Trần Vũ Đ; Lê Đức Anh T4, Lê Đức Anh T1, Hồ Văn X không biết Trần Vũ Đ thuê xe để vận chuyển ma túy nên không xem xét xử lý.

  1. Về xử lý vật chứng:
  • Toàn bộ ma tuý và bao gói hoàn lại sau giám định; 01 ba lô đen dạng quai đeo sau vai, bề mặt có dòng chữ “TIBI ORIGINAL” bị cáo sử dụng vận chuyển ma tuý cần tịch thu tiêu hủy;
  • Đối với điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng màu xanh nhạt, bên trong gắn 01 Sim điện thoại, trên Sim có chữ 4G V và dãy số 89840 48000 93087 0524 bị cáo Đ dùng để liên lạc khi vận chuyển trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với số tiền mặt 4.000.000 đồng là tiền công bị cáo Đ đã nhận để vận chuyển ma túy trước khi bị bắt nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34A-412.06 và giấy tờ kèm theo thuộc sở hữu của Lê Đức A1 Tới nhưng giao cho em ruột là Lê Đức A1 Tiếu kinh doanh dịch vụ vận tải. Khi T1 thuê Hồ Văn X lái xe chở Trần Vũ Đương thì T5 và X không biết việc Đ vận chuyển ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ kèm theo cho chủ quản lý xe là đúng quy định.
  1. Do thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại trên 45 ngày nên tiếp tục tạm giam bị cáo theo Quyết định tạm giam số: 172/2025/HSST-QĐTG ngày 06/11/2025 của TAND tỉnh Quảng Trị.
  2. Về án phí: Bị cáo Trần Vũ Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Vũ Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15), điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Vũ Đ 20 (Hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/10/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + Toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu PS1A 050653 bên ngoài có tên, chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Kèm theo kết luận giám định số 1128/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q);

6

  • + Toàn bộ bao gói còn lại sau giám định được đựng trong 01 thùng catton được niêm phong, ký hiệu BG, trên mép thùng được dán giấy niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Kèm theo kết luận giám định số 1300/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q);
  • + 01 ba lô màu đen dạng quai đeo sau vai, ba lô có nhiều ngăn kéo, trên bề mặt có dùng chữ “TIBI ORIGINAL” màu trắng (được mở từ 01 thùng giấy được dán kím bằng giấy niêm phong ký hiệu BL, trên giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tại thời điểm giao nhận).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG màn hình cảm ứng màu xanh nhạt, kính mặt sau bị vỡ, điện thợi được lắp vào 01 ốp nhựa màu nâu nhạt, bên trong có gắn 01 sim điện thoại điện thoại, trên Sim có chữ 4G V và dãy số 89840 48000 93087 0524, điện thoại đã qua sử dụng được đựng trong 01 phong bì niêm phong, ký hiệu 1217 PC04 bên ngoài có tên, chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Kèm theo kết luận giám định số 447/KL-KTHS ngày 14/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q);
  • + Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng chẵn) được đựng trong một tíu niêm phong, ký hiệu NS3 1908230, dán giấy niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Kèm theo kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q);

Các vật chứng trên hiện có tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

Riêng 01 (một) phong bì giấy niêm phong, ký hiệu NS3 1908230, dán giấy niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Kèm theo kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q) hiện đang được tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận tài sản số 72/2024/BBBG-KBNN Quảng Trị, ngày 14/11/2024 giữa Kho Bạc Nhà nước tỉnh Q và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Vũ Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

7

Nơi nhận:

  • - Viện công tố &KSXX PT tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - THADS tỉnh Q.Trị;
  • - VPCQCSĐT CA tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Q.Trị;
  • - Bị cáo;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu: HSVA, Toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Việt Trung

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 126/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Vũ Đ bị xét xử tội vận chuyển trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger