|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 126/2025/HNGĐ-ST Ngày 30/6/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Hoàn;
- Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Hải Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 184/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thúy H, sinh năm 1975, (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1974, (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 09/4/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị Thúy H trình bày:
Chị và anh Trần Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào năm 2002. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2012 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về lối sống, cuộc sống vợ chồng có nhiều xung đột, thường xuyên cải vã nhau làm cho hôn nhân giữa anh chị không có hạnh phúc. Chị và anh T đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2012 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Dương Cẩm T1, sinh ngày 13/4/2005. Hiện con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc không thể tham gia phiên tòa nên chị H có đơn xin được vắng mặt trong quá trình xét xử.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, đơn khởi kiện, bản tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu ly hôn với anh T, bị đơn anh T hiện cư trú tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; đồng thời chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09 vào ngày 12/7/2002, được xem là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của chị H thì sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2012 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ đầu năm 2012 đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm, anh chị không còn quan tâm cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị H và anh T đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị H và anh T xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau trong thời gian dài, cho thấy hôn nhân giữa hai người lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh T, mở phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh T vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Do đó, chị H yêu cầu xin ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Dương Cẩm T1, sinh ngày 13/4/2005. Hiện con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thúy H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Dương Cẩm T1, sinh ngày 13/4/2005, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003199 ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nên chị H đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mỹ Nhanh |
Bản án số 126/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 126/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thúy H. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T. 2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Dương Cẩm T1, sinh ngày 13/4/2005, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
