TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 126/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Huỳnh Văn Dứt;
- Bà Trần Thị Kim Thoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 239/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ghi G, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải, Nguyên đơn bà Trần Thị Ghi G trình bày:
Bà và ông Nguyễn Quốc V chung sống 2006 có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, hôn nhân tự tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V cờ bạc không phụ giúp vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 03/2024 cho đến nay. Gia đình hai bên không hàn gắn, nay nhận thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc V; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/02/2006 (đã thành niên), Nguyễn Phương V1, sinh ngày 13/9/2010, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 13/9/2016 và Nguyễn Tuấn V2, sinh ngày 02/8/2018, hiện con chung đang sống với bà Ghi G. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên Tòa, bà Ghi G giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc V được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông V vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ghi G đối với ông Nguyễn Quốc V
- Bà Trần Thị Ghi G được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương V1, sinh ngày 13/9/2010, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 13/9/2016 và Nguyễn Tuấn V2, sinh ngày 02/8/2018. Ông Nguyễn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị Ghi G yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc V, ông V có nơi cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bị đơn ông Nguyễn Quốc V được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V là có căn cứ.
[3] Bà Trần Thị Ghi G yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc V. Bà Ghi G và ông V có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà Ghi G trình bày, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V cờ bạc không phụ giúp vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 03/2024 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà Ghi G yêu cầu ly hôn và triệu tập ông V tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông V vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà Ghi G. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Ghi G và ông V đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do ông V cờ bạc không phụ giúp vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 03/2024. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ghi G là phù hợp theo quy định pháp luật.
[4] Về quan hệ con chung: Bà Ghi G xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 04 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/02/2006 (đã thành niên), Nguyễn Phương V1, sinh ngày 13/9/2010, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 13/9/2016 và Nguyễn Tuấn V2, sinh ngày 02/8/2018. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Tòa án ghi nhận nguyện vọng con chung V1, K1 muốn sống chung với mẹ bà Ghi G. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, các con chung V1, K1, V2 do bà Ghi G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết ông V cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà Ghi G. Do đó, để bà Ghi G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu V1, K1 và V2 là phù hợp với pháp luật.
[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Ghi G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết;
[6] Về quan hệ tài sản chung: Bà Ghi G xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về quan hệ nợ chung: Bà Ghi G xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ghi G đối với ông Nguyễn Quốc V.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ghi G được ly hôn với ông Nguyễn Quốc V.
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Ghi G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương V1, sinh ngày 13/9/2010, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 13/9/2016 và Nguyễn Tuấn V2, sinh ngày 02/8/2018. Ông Nguyễn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Trần Thị Ghi G cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Quốc V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Không có.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Trần Thị Ghi G xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Trần Thị Ghi G và ông Nguyễn Quốc V phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phan Thị Tuyết N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0024155 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 24 tháng 02 năm 2025. Bà Trần Thị Ghi G đã nộp đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Bản án số 126/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 126/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc V; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/02/2006 (đã thành niên), Nguyễn Phương V1, sinh ngày 13/9/2010, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 13/9/2016 và Nguyễn Tuấn V2, sinh ngày 02/8/2018, hiện con chung đang sống với bà Ghi G. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Việt cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
