Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/DS-ST

Ngày: 20/6/2025

Vv: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lệ Thu.;

2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/6/2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2025/TLST-DS ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2025/QĐXXST – DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 189/2025/QĐHPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N; Địa chỉ trụ sở chính: số B C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Duy K sinh năm 2001 hoặc Ông Nguyễn Huỳnh Nhật M sinh năm 2001 hoặc Nguyễn Lê Hoàng G sinh năm 2002; địa chỉ: Lầu F, Số D L, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 1141/2024/UQ-AMC ngày 02/12/2024) (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Hoàng A sinh năm 1988; địa chỉ: A, Khu N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; Các bản tự khai; Biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh B và ông Hoàng A đã ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ký ngày 05/12/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng tín dụng), cụ thể:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh B đã phát hành cho ông Hoàng A sản phẩm thẻ JCB EMV HappyGolf Credit Main Card với số tài khoản 791514663320001; Số thẻ: 3565199900969016; Sản phẩm thẻ: J; Ngày phát hành: 13/12/2022; Ngày kích hoạt: 20/12/2022; Thời hạn thẻ: 31/12/2027; Lãi suất trong hạn: 30%/năm; Lãi suất quá hạn: 45%/năm. Hạn mức thẻ: 500.000.000 đồng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Hoàng A thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.514.789.250 đồng và ông Hoàng A thực hiện các giao dịch thanh toán cho ngân hàng Thương mại Cổ phần N với tổng số tiền là 2.064.809.916 đồng. Theo Khoản 5 Điều 9 bảng điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của N1 thứ tự ưu tiên thanh toán dư nợ ( Đối với tài khoản quản lý thẻ trong hạn, thứ tự ưu tiên thanh toán từng mục nêu trên sẽ được xét độc lập từng kỳ thông báo giao dịch ( ưu tiên trừ các khoản phí đến lãi rồi đến gốc)) Sau khi ông Hoàng A thực hiện các giao dịch thanh toán cho Ngân hàng N thì sẽ ưu tiên thanh toán các mục nêu trên và số tiền gốc hiện tại còn lại là 502.936.305 đồng (Chi tiết theo tóm tắt sao kê) .Tại thời điểm 14/02/2023 đến ngày 14/01/2024, ông Hoàng A thanh toán không đủ số tiền nên phát sinh lãi trong hạn 30%/năm và phí chậm thanh toán.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng ông Hoàng A đã vi phạm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ký ngày 05/12/2022 nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần N dã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn vào ngày 14/02/2024 và chịu lãi suất 45%/năm (Thông báo chuyển nợ quá hạn số 20A/2024/TB-NHNA-T.CHINH ngày 16/01/2024).

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông Hoàng A phải thanh toán ngay một lần cho nguyên đơn tạm tính đến ngày 20/06/2025 tổng số tiền là: 876.156.858 đồng; trong đó nợ gốc: 502.936.305 đồng; nợ lãi: 373.220.553 đồng; trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ký ngày 05/12/2022.

Vì những lý do trên, với tư cách là người khởi kiện, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N kính đề nghị Quý Tòa xem xét, thụ lý đơn khởi kiện này để giải quyết các yêu cầu đối với người bị kiện như sau:

  1. T buộc ông Hoàng A có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực các khoản sau: Bảng sao kê tóm tắt thẻ tín dụng của ông Hoàng A, tính đến ngày 20/06/2025 ông Hoàng A còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần N tổng cộng số tiền là 876.156.858 đồng; trong đó nợ gốc: 502.936.305 đồng; nợ lãi: 373.220.553 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán đầy đủ nghĩa vụ, ông Hoàng A vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
  2. Khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Hoàng A vẫn chưa thanh toán đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cũng như quy định của pháp luật

Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7:

  1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
  2. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  3. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
  4. Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    Bị đơn ông Hoàng A mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.

  5. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N khởi kiện bị đơn ông Hoàng A phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ngày 05/12/2022, thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng”.

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/10/2020 thể hiện ông Hoàng A tại thời điểm ký kết hợp đồng với nguyên đơn có địa chỉ tại A, Khu N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh: Công dân ông Hoàng A không có hộ khẩu thường trú, tạm trú và không có thực tế cư trú. Căn cứ Kết quả xác minh của xã N, Thành phố N, tỉnh Nam Định: Công dân ông Hoàng A sinh ngày 10/11/1988 có hộ khẩu thường trú tại Số C Đ, phường N, Thành phố N, tỉnh Nam Định, công dân thường xuyên không có mặt ở nhà, đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về hình thức

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Hoàng A các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N đối với bị đơn ông Hoàng A:

Xét, Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ngày 05/12/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N đã chấp thuận Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N đã phát hành cho ông Hoàng A sản phẩm thẻ MC EMV Standard Credit Main Card với số tài khoản 791514663320001; Số thẻ: 3565199900969016; Sản phẩm thẻ: J; Ngày phát hành: 13/12/2022; Ngày kích hoạt: 20/12/2022; Thời hạn thẻ: 31/12/2027; Lãi suất trong hạn: 30%/năm; Lãi suất quá hạn: 45%/năm. Hạn mức thẻ: 500.000.000 đồng.

Từ thời điểm mở sử dụng thẻ đến ngày 14/02/2024 ông Hoàng A thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.514.789.250 đồng và ông Hoàng A thực hiện các giao dịch thanh toán cho ngân hàng Thương mại Cổ phần N với tổng số tiền là 2.064.809.916 đồng. Theo Khoản 5 Điều 9 bảng điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của N1 thứ tự ưu tiên thanh toán dư nợ: “Đối với tài khoản quản lý thẻ trong hạn, thứ tự ưu tiên thanh toán từng mục nêu trên sẽ được xét độc lập từng kỳ thông báo giao dịch ( ưu tiên trừ các khoản phí đến lãi rồi đến gốc)” Sau khi ông Hoàng A thực hiện các giao dịch thanh toán cho Ngân hàng N thì sẽ ưu tiên thanh toán các mục nêu trên và số tiền gốc hiện tại còn lại là 502.936.305 đồng .Tại thời điểm 14/02/2023 đến ngày 14/01/2024, ông Hoàng A thanh toán không đủ số tiền nên phát sinh lãi trong hạn 30%/năm và phí chậm thanh toán.

Căn cứ Bảng sao kê tóm tắt thẻ tín dụng của ông Hoàng A, tính đến ngày 20/06/2025 ông Hoàng A còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N tổng số tiền là: 876.156.858 đồng; trong đó nợ gốc: 502.936.305 đồng; nợ lãi: 373.220.553 đồng.

Xét, theo quy định của pháp luật: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”.

Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự 2015 về nghĩa vụ trả tiền và Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

Xét, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Hoàng A. Tuy nhiên ông Hoàng A không đến tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn ông Hoàng A đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N buộc bị đơn ông Hoàng A phải thanh toán tổng cộng số tiền tính đến ngày 20/06/2025 tổng số tiền là: 876.156.858 đồng; trong đó nợ gốc: 502.936.305 đồng; nợ lãi: 373.220.553 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về thời hạn trả nợ:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N yêu cầu bị đơn ông Hoàng A phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét, bị đơn ông Hoàng A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[3.3] Về tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N yêu cầu bị đơn ông Hoàng A phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ngày 05/12/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N cho đến khi thi hành án xong.

Căn cứ Điều 5 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N quy định: “Trường hợp chủ thẻ không có dư nợ đầu kỳ thì lãi đối với dư nợ cuối kỳ (không bao gồm lãi) được tính từ ngày thông báo đến ngày chủ thẻ thanh toán. Trường hợp chủ thẻ có dư nợ đầu kỳ thì lãi đối với các giao dịch phát sinh trong kỳ thông báo giao dịch được tính từ ngày thực hiện giao dịch đến ngày chủ thẻ thanh toán”

Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4.] Về án phí:

Bị đơn ông Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Luật Phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014,

Xử:

  1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N, bị đơn ông Hoàng A.
  2. Về nội dung:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N.
    2. Buộc ông Hoàng A phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N số tiền tổng cộng tính đến ngày 20/6/2025 là: 876.156.858 đồng; trong đó nợ gốc: 502.936.305 đồng; nợ lãi: 373.220.553 đồng.

      Trả ngay 01 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    3. Kể từ ngày 21/6/2025, bị đơn ông Hoàng A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ngày 05/12/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0304/2022/915-CV ngày 05/12/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

      Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    5. Bị đơn ông Hoàng A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 38.284.706 đồng.

      Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N là 16.822.224 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0037468 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

    6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
    7. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ Phần N và bị đơn ông Hoàng A được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

      Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

      Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKS ND Q.7;
  • - Chi cục THADS Q.7;
  • - Đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ (Tk. Thúy).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Xuân Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 126/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger