Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/DS-PT

Ngày: 24-6-2025

V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường, ông Bùi Đăng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03/6/2025 và 24/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2025/TLPT-DS ngày 24/02/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo. Theo Thông báo hoãn phiên tòa số 83/TB-TA ngày 16/6/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1957

    Địa chỉ: E Đ, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Kim L, sinh năm 1996. Địa chỉ: số F H, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Đức T1 Ý thuộc Công ty L2, Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: 1 H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966

    Địa chỉ: Số 1, đường A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  • - Người làm chứng: Bà Trần Thị H, sinh năm 1959

    Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, Bình Thuận.

  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị T và bị đơn bà Nguyễn Thị T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 08/11/2023 và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Do mối quan hệ họ hàng (bà Nguyễn Thị T2 gọi bà là cô) nên vào tháng 4/2010 bà Nguyễn Thị T2 nhờ bà vay tiền để làm sổ đỏ các thửa đất mà bà T2 và bà đã mua để làm dự án 101 hecta do Công ty T5 đứng tên vào năm 2009 (có kèm theo bản vẽ) ở xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận và hứa khi nào bán đất sẽ trả tiền cho người ta (số tiền này bà T2 đã đồng ý thỏa thuận với người cho vay và trực tiếp nhận tiền). Bà dẫn bà T2 tới nhận tiền của những người cho mượn, tuy nhiên bà T2 không trả lãi hàng tháng do đó bà phải tiếp tục đứng ra trả lãi hàng tháng cho những người mà bà đã vay mượn giúp cho bà T2.

Đến ngày 03/01/2012, bà Nguyễn Thị T2 đã tự viết Giấy xác nhận nợ với bà, trong đó số tiền bà Nguyễn Thị T2 đã nhận được bà T2 ghi chép rất đầy đủ, rõ ràng và đã tính toán đến tháng 12/2011 là 1.400.000.000 (một tỷ bốn trăm triệu) đồng và hứa khi bán được đất đã mua trong thời gian trước đó ở xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận sẽ thanh toán để bà thanh toán cho người ta.

Về số tiền 200.000.0000 đồng, ngày 27/4/2019 bà Nguyễn Thị T2 đưa cho tôi số tiền 200.000.000 đồng. Bà viết vào tờ giấy lịch đưa cho bà T2, nội dung “tôi nhận 200 triệu đồng”, không ghi nội dung trả tiền gì, là tiền giới thiệu bán đất, bà nói với bà T2 bà lấy để trả lãi số tiền nợ ngày 03/01/2012 (theo Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012) và từ đó đến nay, bà T2 không gửi bà thêm số tiền nào khác.

Sau đó, năm 2022 bà khởi kiện đòi số tiền 1,4 tỷ đồng. Bà về viết giấy khác, nội dung bổ sung: 200 triệu đồng để trả lãi vay, mục đích bà nộp cho T3 để trừ vào tiền lãi số tiền gốc 1,4 tỷ đồng.

Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho bà số tiền còn nợ theo Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 và tiền lãi theo quy định của pháp luật:

  • + Từ ngày 03/01/2012 đến 31/12/2016: 1.821 ngày; lãi suất 9%/năm = 0,75%/tháng = 0,025%/ngày. Tiền lãi là: 1.400.000.000 đồng x 0,025%/ngày x 1.821 ngày = 637.350.000 đồng.

  • + Từ ngày 01/01/2017 đến 08/11/2023: 2.515 ngày; lãi suất 10%/năm = 0,83%/tháng = 0,0277%/ngày. Tiền lãi là: 1.400.000.000 đồng x 0,0277%/ngày x 2.515 ngày = 975.317.000 đồng.

  • - Tổng cộng số tiền bà T2 phải trả cho bà T đến ngày 08/11/2023 là 1.400.000.000 đồng + 637.350.000 đồng + 975.317.000 đồng – 200.000.000 đồng = 2.812.667.000 (hai tỷ tám trăm mười hai triệu, sáu trăm sáu mươi bày ngàn) đồng.

Trong Giấy xác nhận nợ bà T2 đã xác nhận nợ 300 triệu đồng rồi, riêng khoản 1,4 tỷ đồng thì yêu cầu bà T2 trả theo Giấy xác nhận nợ số tiền 1,4 tỷ đồng. Số tiền 1,4 tỷ đồng bà đứng ra mượn và bà T2 xuống nhận tiền từng người, không có giấy tờ vì chỗ quen biết trả liền để làm sổ đỏ lượng đất nhiều trong diện tích

đất 101 ha và để trả lãi của 02 năm 2010 và 2011. Phần bà đứng ra mượn tiền, bà T2 đi nhận và lo thủ tục Giấy tờ ra sổ và bán đất.

Nay bà yêu cầu bà T2 thanh toán cho bà số tiền nợ gốc bà T2 xác nhận ở đoạn cuối của Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012. Lời khai trước đây nợ số tiền gốc 1,4 tỷ đồng từ 03 khoản tiền nợ (300, 420, 680 triệu đồng) là chưa chính xác. Bà T2 còn nợ bà 1,4 tỷ đồng nên bà T2 mới ký xác nhận nợ ngày 03/01/2012.

Tại Bản tự khai ngày 12/7/2023 và quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Bà công nhận chữ ký, chữ viết trên Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 là của bà viết và ký, B viết nội dung Giấy xác nhận nợ này là viết theo ý của bà T vì bà T nói với bà nhờ bà viết nhận nợ giúp để bà T đối phó với các chủ nợ của bà T và hứa là sẽ không kiện tụng đòi bà phải trả khoản này, vì tình cô cháu nên bà mới viết giấy này. Do vậy nay bà T kiện yêu cầu bà phải trả khoản nợ 1,4 tỷ đồng thì bà không đồng ý vì bà không vay khoản tiền này.

Bà chỉ thừa nhận có vay của bà T tổng cộng 300 triệu tiền gốc theo các Giấy nhận nợ ngày 29/9/2006 số tiền vay là 50 triệu đồng tiền gốc và Giấy vay nợ ngày 15/10/2007 số tiền vay là 250 triệu đồng tiền gốc. Sau khi vay của bà T số tiền gốc 300 triệu đồng, bà đã phải trả lãi suất rất cao đến 6%/tháng và bà đã trả lãi hàng tháng cho bà T từ ngày 29/6/2006 đến tháng 7/2010 số tiền lãi tổng cộng là 630 triệu đồng, khi trả lãi hàng tháng thì không làm giấy xác nhận, nhưng đến ngày 03/01/2012 thì bà đã viết nội dung này thể hiện trong Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 là bà đã trả cho bà khoản tiền lãi 630 triệu đồng của số tiền vay gốc, bà T đã công nhận nội dung này vì bà đã ký vào Giấy xác nhận nợ này.

Tuy nhiên, theo quy định pháp luật cụ thể số tiền lãi bà chỉ phải trả của tiền gốc 300 triệu đồng là như sau:

  • + Mốc thời gian cụ thể tôi tính lãi cho khoản vay 50 triệu đồng là từ ngày 29/6/2006 đến tháng 6/2010 (thể hiện trên giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012) là 45 tháng x 50 triệu đồng x 0,75% = 16.878.000 đồng;

  • + Tiền lãi cho khoản vay 250 triệu đồng là: mốc thời gian tính lãi từ 15/10/2007 đến tháng 6/2010 (theo Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012) là 32 tháng x 250 triệu đồng x 0,83% = 60.00.000 đồng.

Tổng cộng hai khoản tiền lãi đã trả tính theo quy định pháp luật thì bà đã trả cho bà T tổng cộng là 76.875.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi bà phải trả là: 376.875.000 đồng.

Bà T phải trả lại cho bà tạm tính đến tháng 6/2010: 630.000.000 đồng - 376.875.000 đồng = 253.125.000 đồng và tiền lãi từ tháng 7/2010. Ngoài ra yêu cầu bà T trả số tiền 200.000.000 đồng trả ngày 27/4/2019 và tiền lãi từ 28/4/2019 đến nay theo quy định pháp luật.

Bà T còn thay đổi Giấy đối với số tiền 200.000.000 đồng, bản chính bà đang lưu ghi là “Ngày 27/4/2019 cô nhận của T2 200.000.000 đồng”, tuy nhiên bản nộp tại Tòa là “Ngày 27/4/2019, tôi có nhận của Nguyễn Thị T2 số tiền 200.000.000 đồng để trả lãi nợ vay”. Bà T nhiều lần dắt người tới mua đất mà bà

và bà T trước đó mua chung và đất, trong đó 02 lần thành công, năm 2015 bán 760 triệu đồng, bà trả 360 triệu đồng tiền nợ của 680.000.000 đồng đã đầu tư mua đất chung. Lần 2 ngày 27/4/2019, bà trả 200 triệu đồng cũng để trả số tiền 680.000.000 đồng mua đất chung. Số tiền 360 triệu đồng đã trừ ở bản án phúc thẩm. Còn số tiền 200 triệu đồng đúng ra phải trừ vào số gốc 680.000.000 đồng, cấp phúc thẩm bản án trước căn cứ giấy nhận tiền không có nội dung cụ thể nên không chấp nhận, thực tế bà đưa để trả tiền mua đất chung. Năm 2022, bà T viết Giấy cung cấp cho T3 nói rằng trừ 200 triệu đồng vào số tiền lãi là do bà T tự ghi, bà T không ghi với bà về việc trả vào lãi, bà T tự ghi sau này.

Bà yêu cầu bà T trả số tiền 200.000.000 đồng bà trả vào ngày 27/4/2019 và tiền lãi từ 28/4/2019 đến nay theo quy định pháp luật. Từ khi viết Giấy xác nhận nợ năm 2012 đến năm 2020 (khi kiện vụ đầu tư 680 triệu đồng mua đất) thì bà T không nhắc gì đến vấn đề trả gốc và lãi, chứng tỏ là viết để đối phó như tôi đã trình bày trước tới nay). Chỉ đến khi bà yêu cầu trừ 560 triệu đồng vào tiền đầu tư mua đất thì bà T mới đưa Giấy xác nhận nợ ra Tòa kiện. Việc mượn tiền 1,4 tỷ đồng là không có thật nên bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 471, 474, 476 và 478 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • - Điều 357, 468 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Khoản 2, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bà Nguyễn Thị T2 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho bà Trần Thị T tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi còn nợ là 704.785.000 (bảy trăm lẻ bốn triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn) đồng. Trong đó tiền gốc là 420.000.000 đồng và tiền lãi là 284.785.000 đồng.

Kể từ ngày 31/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì thực hiện theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/11/2024, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 13/11/2024, bị đơn kháng cáo yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn: Thay đổi kháng cáo, không đề nghị hủy bản án sơ thẩm mà đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà T2 khai việc viết giấy xác nhận nợ chỉ là viết giùm bà T để đối phó với các chủ nợ là không có căn cứ. Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 do bà T2 tự viết, tự ký tên, số tiền bà T2 xác nhận còn nợ bà T là 1,4 tỷ đồng gồm tiền nợ gốc và tiền lãi bà T phải trả cho các chủ nợ, hồ sơ thể hiện bà T có vay của nhiều người để đưa tiền cho bà T2 mượn. Như vậy, việc bà T đi mượn tiền của những người khác và đưa cho bà T2 là có thật, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của những người làm chứng. Do đó, có căn cứ xác định bà T2 nợ bà T 1,4 tỷ đồng nên bà T2 phải có trách nhiệm trả gốc và lãi theo quy định của pháp luật với mức lãi suất 9%/tháng.

  • - Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, không thừa nhận có nợ tiền của nguyên đơn, việc ký tên vào giấy xác nhận nợ là theo yêu cầu của nguyên đơn để nguyên đơn đối phó với các chủ nợ.

  • - Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: có đủ căn cứ xác định trong khoản nợ 1,4 tỷ đồng có 300.000.000 đồng tiền gốc bà T2 đã vay và đã trả, 420.000.000 đồng tiền gốc và 680.000.000 đồng tiền lãi với mức lãi suất 4,5%/tháng. Số tiền lãi này cao hơn quy định của pháp luật, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần tiền lãi trong tổng số tiền 680.000.000 đồng mà nguyên đơn yêu cầu.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ngày 03/01/2012, bà Nguyễn Thị T2 và bà Trần Thị T cùng ký Giấy xác nhận nợ với nội dung bà T2 có vay của bà T 50.000.000 đồng ngày 29/9/2006 và 250.000.000 đồng ngày 15/10/2007 (tổng là 300.000.000 đồng), bà T2 đã thanh toán liền lãi của khoản nợ này đến tháng 7/2010 là 630.000.000 đồng và xác nhận bà T2 còn nợ bà T 1.400.000.000 đồng. Xét thấy, Giấy xác nhận nợ do bà T2 tự viết và ký tên, trong đó ngoài việc bà T2 xác nhận nợ bà T 1,4 tỷ đồng, bà T2 còn xác nhận nội dung bà T2 có vay bà T 300.000.000 đồng và đã trả lãi 630 triệu

đồng, và bà T2 thừa nhận việc xác nhận khoản vay 300.000.000 đồng là đúng. Bà T2 cho rằng, bà viết giấy xác nhận nợ là theo yêu cầu của bà T để giúp bà T đối phó với các chủ nợ, thực tế bà T2 không nợ tiền bà T. Ngoài lời trình bày bà T2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Do vậy, bà T2 kháng cáo cho rằng bà không nợ tiền bà T là không có căn cứ chấp nhận.

[2] Về số nợ 1.400.000.000 đồng tại Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà T xác định 1.400.000.000 đồng là số nợ gốc.

Tại buổi đối chất ngày 16/4/2025, bà T xác định số tiền 1.400.000.000 đồng mà hai bên xác nhận ngày 03/01/2012 gồm 1.120.000.000 đồng tiền nợ gốc và 285.000.000 đồng tiền lãi, không bao gồm khoản 300.000.000 đồng.

Trong vụ án bà T khởi kiện trước đây những đã rút đơn (vụ án đã được đình chỉ giải quyết) thể hiện: Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2022, biên bản đối chất và biên bản hòa giải ngày 16/6/2022 bà T trình bày, trong 1.400.000.000 đồng gồm 3 khoản: Khoản vay 300.000.000 đồng của bà Phạm Thị T4, khoản vay 420.000.000 đồng của nhiều người khác, tổng cộng là 720.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền 720.000.000 đồng là 680.000.000 đồng.

Trong vụ án này, do không đồng ý với Bản án sơ thẩm bà T4 đã kháng cáo và kèm theo đơn kháng cáo bà T4 có nộp tài liệu liệt kê các khoản tiền bà T4 nợ bà T do bà T tự tay viết. Tài liệu này là bản phô tô nhưng bà T thừa nhận toàn bộ nội dung trong tài liệu này là do bà T viết nhưng chỉ là viết nháp, trong đó thể hiện số nợ 1.400.000.000 đồng gồm các khoản sau:

  • - Gốc 300.000.000 đ lãi 5-6% mượn của Phạm Thị T4.
  • (lãi đồng ý thỏa thuận bên vay)
  • - 100.000.000 đồng, 3% mượn của Phạm Thị V (năm 2010).
  • - 120.000.000 đồng, 5% mượn của Tường Q.
  • - 120.000.000 đồng, 4% mượn của Ngọc B1 (thế 2 sổ đỏ).
  • - 40.000.000 đồng, 3,5% mượn của Đặng Thị S (thế vàng).
  • - 40.000.000₫, 3%5 mượn của Trần Thị H (2010).

Cộng: 720.000.000 đồng x 4,5% = 32.400.000 đồng.

Tiền lãi phải trả là: 32.400.000 đồng x 21 tháng = 680.000.000 đồng.

Tổng cộng 2 khoản: 720.000.000 đồng + 680.000.000 đồng = 1.400.000.000 đồng.

Xét thấy, tài nêu trên là do bà T tự tay viết ra, mặc dù bà T cho rằng nội dung trong giấy là bà viết nháp nhưng trong giấy này trình bày cụ thể, chi tiết từng khoản vay, thời gian tính lãi và lãi suất, các số liệu tính toán hoàn toàn trùng khớp với nhau. Mặt khác tại Giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 hai bên chỉ thể hiện bà T4 đã thanh toán tiền lãi của số nợ gốc 300.000.000 đồng và xác nhận bà T4 còn nợ bà T 1.400.000.000 đồng, không thể hiện số nợ gốc 300.000.000 đồng

đã trả. Do vậy, mặc dù bà T có lời khai khác nhau về số nợ 1.400.000.000 đồng, nhưng với tài liệu là bản viết tay do bà T tự liệt kê các khoản nợ và tại đơn khởi kiện ngày 15/3/2022, biên bản đối chất, biên bản hòa giải ngày 16/6/2022, cấp sơ thẩm xác định trong 1.400.000.000 đồng nợ gồm 3 khoản: 300.000.000 đồng vay của Phạm Thị T4, 420.000.000 đồng nợ gốc và 680.000.000 đồng tiền lãi là có căn cứ.

[3] Đối với khoản tiền 300.000.000 đồng nợ gốc theo giấy mượn tiền ngày 29/9/2006 và giấy mượn tiền ngày 15/10/2007. Khoản tiền này bà T thừa nhận bà T4 đã trả 630.000.000 đồng là vượt quá tiền nợ gốc và khoản vay này người đứng tên bên cho vay trong giấy vay mượn là bà Phạm Thị T4, bên cho vay không phải là bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận khoản tiền này là có căn cứ.

[4] Đối với khoản tiền 420.000.000 đồng tiền nợ gốc mà bà T trình bày bà vay của 5 người khác giùm cho bà T4 để bà T4 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã H, huyện B. Lời khai của bà Nguyễn Thị Ngọc B1, bà Phạm Thị Đ, bà Lê Thị Thanh L1 tại cấp sơ thẩm phù hợp với trình bày của bà T. Tại cấp phúc thẩm bà T cung cấp thêm một số lời trình bày của bà Đặng Thị S, bà Trần Thị H, bà Hồ Thị N. Những người làm chứng này trình bày phù hợp với lời khai của bà T và bà T4 cũng thừa nhận đã tự viết, tự ký vào giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012 do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với khoản tiền này là có căn cứ.

[5] Đối với số tiền 680.000.000 đồng tiền lãi tính từ tháng 4/2010 đến tháng 11/2011, bà T xác định đây là tiền lãi bà đã trả thay bà T4 cho các chủ nợ đối với số tiền 720.000.000 đồng với mức lãi suất từ 3-5%/tháng, tính bình quân là 4,5%/tháng. Mức lãi suất từ 4,5%/ tháng là vượt mức lãi suất quy định của pháp luật. Theo Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về mức lãi suất: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tại thời điểm vay theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định là 09%/năm. Do đó, mức lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá 13,5%/năm = 1,125%/tháng. Do vậy, Tòa án sẽ tính lại mức lãi suất theo quy định trên số nợ gốc là 420.000.000 đồng (vì khoản 300.000.000 đồng bà T4 đã trả lãi vượt quá mức lãi suất theo quy định pháp luật, không được Hội đồng xét xử chấp nhận như nhận định ở phần trên):

420.000.000 đồng x 1,125% x 21 tháng = 99.225.000 đồng.

Tại cấp sơ thẩm, không đương sự nào cung cấp cho Tòa án tài liệu là bản viết tay của bà T liệt kê chi tiết khoản vay và lãi suất nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận toàn bộ số tiền 680.000.000 đồng mà nguyên đơn yêu cầu. Căn cứ vào tài liệu mới này, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận một phần lãi trong tổng số tiền 680.000.000 đồng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Như vậy, trong số tiền 1.400.000.000 đồng, có căn cứ chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn là 519.225.000 đồng, gồm 420.000.000 đồng tiền gốc và 99.225.000 đồng tiền lãi.

[7] Xét yêu cầu tính lãi: Mặc dù giấy xác nhận nợ ngày 03/01/2012, hai bên không ghi rõ lãi suất và thời điểm trả nợ nhưng giấy xác nhận nợ không phải là giấy vay tiền mà chỉ kết nợ các khoản vay trước đó mà các khoản vay trước đó đều là vay có lãi và thời điểm trả nợ được tính kể từ ngày xác nhận nợ. Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi với mức lãi suất 9%/năm (bằng lãi suất cơ bản là có căn cứ).

Từ ngày 04/01/2012 đến ngày 30/10/2024 là 12 năm 300 ngày;

Tiền lãi: 519.225.000 đồng x 12 (năm) x 9% + 519.225.000 đồng x 300 (ngày) x 9%/365 = 560.763.000 đồng + 38.408.000 đồng = 599.171.000 đồng.

Tổng cộng cả gốc và lãi là: 519.225.000 đồng + 599.171.000 đồng = 1.118.396.000 đồng.

Bà T4 đã trả cho bà T 200.000.000 đồng tiền lãi, số tiền bà T4 còn phải trả cho bà T là: 918.396.000 đồng.

[8] Về án phí: Bà T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn, tiền án phí phải chịu là 39.551.880 đồng. Bà T phải chịu án phí trên số tiền bà yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, nhưng bà T là người cao tuổi và có đơn miễn án phí nên được miễn án phí. Do án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T2; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

  • - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 305, 471, 474, 476 và 478 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • - Điều 357, 468 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Khoản 2, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bà Nguyễn Thị T2 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản":

Buộc bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho bà Trần Thị T tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi là 918.396.000 (Chín trăm mười tám triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn) đồng. Trong đó tiền gốc là 519.225.000 đồng và tiền lãi là 399.171.000 đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì thực hiện theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 39.551.880 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà T2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002397 ngày 20/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA (02 bản), THA cấp huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HCTP - Tòa án tỉnh;
  • - Lưu: TDS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 126/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T - Nguyễn Thị T2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger