trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HSST

Ngày: 01/07/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm.
  2. Ông Nguyễn Văn Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/HSST ngày 20 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

TRỊNH QUỐC T1, sinh năm 1983 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 7, xã N, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Quốc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết);

+ Tiền án, tiền sự: 02 tiền án:

  • Ngày 08/11/2002 bị TAND thành phố Hà Nội xử 3 năm tù giam về tội cướp tài sản (BA số 903/HSST), ra trại ngày 27/5/2005, chưa nộp án phí – chưa được xóa án tích.
  • Ngày 28/8/2020 bị TAND huyện Thanh Trì xử 30 tháng tù giam tội Trộm cắp tài sản (BA số 147/2020/HSST), ra trại ngày 20/5/2022 – chưa được xóa án tích.

+ Về nhân thân:

  • Ngày 07/6/2006, bị TAND huyện Thanh Trì xử 9 tháng tù giam tội trộm cắp tài sản (BA số 66/2006/HSST) - đã được xóa án tích.
  • Năm 2007, cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đã hết thời hiệu xử lý.
  • Ngày 27/8/2009 bị TAND huyện Thanh Trì xử 42 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (BA số 107/2009/HSST), ra trại ngày 30/4/2012 – đã được xóa án tích.
  • Ngày 22/4/2014 bị TAND huyện Thanh Trì xử 3 năm tù giam tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (BA số 55/2014/HSST), ra trại ngày 28/7/2016 - đã được xóa án tích.

Bị can bị bắt khẩn cấp, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/01/2024, Trịnh Quốc T1 đi xe máy một mình đến khu vực Khu công nghiệp N, T, Hà Nội để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T1 gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 02 túi ma túy gồm 3.000.000 đồng tiền “ke” và 3.000.000 đồng tiền “kẹo”. Sau đó, T1 cầm 02 túi ma túy ở lòng bàn tay trái và đi tìm nơi sử dụng.

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 05/1/2024, Tổ công tác Công an thị trấn V phối hợp với công an xã N làm nhiệm vụ tuần tra tại đoạn đường đối KCN N phát hiện đối tượng Trịnh Quốc T1 đang đứng cạnh xe máy Honda SH mode BKS: 29M1-95508 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Lúc này, T1 bỏ chạy, đồng thời thả từ lòng bàn tay phải xuống đất 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu xanh và tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã đuổi theo và khống chế được T1, tiến hành thu giữ niêm phong số tang vật trên và đưa T1 về trụ sở làm việc. Ngoài ra còn tạm giữ của T1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS: 291-95508.

Ngày 06/01/2024, Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 119/QĐ-ĐCSMT đối với 02 túi nilong chứa tinh thể màu trắng và các viên nén thu giữ của Trịnh Quốc T1.

Tại Bản kết luận giám định số 472/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

01 túi nilong bên trong có:

  • Tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,156 gam. 10 viên nén màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 3,890 gam.”

01 túi nilong bên trong có:

  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 6,206 gam.
  • 30 viên nén màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 11,639 gam.”

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,494 gam Ketamine trong tổng 7,362 gam Ketamine và 1,956 gam MDMA trong tổng 15.529 gam MDMA để làm mẫu giám định. Số lượng ma túy 6,686 gam Ketamine và 13,573 gam MDMA còn lại, cơ quan giám định hoàn trả cho cơ quan CSĐT – Công an huyện T. Tại Cơ quan Điều tra, Trịnh Quốc T1 ban đầu không hợp tác làm việc và không thừa nhận số ma túy trên là của T1. Đến ngày 17/01/2024, T1 thay đổi lời khai, thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. T1 khai mua ma túy để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích gì khác.

Tại bản cáo trạng số 104/CT-VKS-TT ngày 15 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Trịnh Quốc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Trịnh Quốc T1 từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 6,686 gam ma tuý loại Ketamine, 13,573 gam MDMA;

Tại phiên toà: Bị cáo Trịnh Quốc T1 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Trịnh Quốc T1 đã có hành vi cất giữ trái phép 7,362 gam ma túy loại Ketamine và 15,529 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích mua, bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy. Trịnh Quốc T1 có 02 tiền án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện tiếp hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đối chiếu quy định của pháp luật, Trịnh Quốc T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Ma túy là mối nguy hiểm của xã hội, bởi nó không chỉ là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong bên trong có 6,686 gam ma tuý loại Ketamine, 13,573 gam MDMA là chất Nhà nước cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS: 291-95508 tạm giữ của Trịnh Quốc T1, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị H (sinh năm 2002, trú tại: Đ, xã N, huyện T, Hà Nội) – là vợ của T1. Ngày 05/01/2024, T1 mượn chiếc xe máy trên của của chị H để đi giải quyết việc cá nhân, chị H không biết việc T1 đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho chị H; chị H đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì. Toà án không xét.

[7]. Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T1, T1 khai không biết nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Tòa không xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Trịnh Quốc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt:

- Bị cáo Trịnh Quốc T1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

[2].Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trịnh Quốc T1 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 89 ngày 15/5/2024 phòng bì niêm phong bên trong có 6.686 gam ma tuý Ketamine, 13.573 gam ma tuý MDMA)

(Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/6/2024)

[3].Về án phí: Bị cáo Trịnh Quốc T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Trịnh Quốc Tuân đã có hành vi cất giữ trái phép 7,362 gam ma túy loại Ketamine và 15,529 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích mua, bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy. Trịnh Quốc Tuân có 02 tiền án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện tiếp hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger