Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 126/2024/HS-PT

Ngày: 22-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 118/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trung T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung T, sinh năm 1980 tại: Thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P1/6, C N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: số C T, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Kiều Thị H (Đã chết); Vợ Vũ Thị Thu H1 (Đã ly hôn) và Lê Hoàng N (Đã ly hôn); Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 108/2011/HSST ngày 12-8-2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”

2

Tại Bản án số 79/2012/HSST ngày 28-8-2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 12 tháng tù cho hưởng treo thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tại Bản án số 13/2015/HSST ngày 19-3-2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xử phạt 12 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tổng hợp hình phạt của Bản án số 79/2012/HSST ngày 28-8-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03-11-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo là Ngô Hữu T2 và Đoàn Ngọc D không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; người bị hại, 03 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; 03 người làm chứng nhưng những người này không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2017 anh Lê Văn T3, sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Nguyễn Trung T có làm ăn chung với nhau, Nguyễn Trung T đã cho anh T3 vay số tiền 70.000.000 đồng để T3 cho những người có nhu cầu vay rồi lấy tiền lãi chia nhau tiêu xài. Tuy nhiên, số tiền mà T3 đã cho vay chưa lấy lại được nên T nhiều lần yêu cầu T3 trả cho mình số tiền trên. Khoảng năm 2019, T3 mới trả được cho T số tiền 38.000.000 đồng, số tiền còn lại 32.000.000 đồng T3 hẹn khi nào có sẽ trả. T nhiều lần sử dụng điện thoại của mình nhắn tin, gọi điện đến cho T3 để yêu cầu trả nợ thì T3 đều hẹn cuối năm sẽ trả nhưng T không đồng ý.

Ngày 29-10-2023, T đến nhà thuê của Ngô Hữu T2 tại địa chỉ thôn Q, xã G, huyện L để nhậu với bạn của T là Phạm Văn T4, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, T gặp Phạm Văn T4; Ngô Hữu T2, sinh năm: 1981, nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, tổ B, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Đoàn Ngọc D, sinh năm: 1985, nơi cư trú: Số nhà B, đường B, tổ M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Phạm Ngọc B, sinh năm 1999, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Lương Văn T5, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Nguyễn Văn V, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Trong lúc ngồi nhậu

3

T kể cho Phạm Ngọc B và Phạm Văn T4 nghe về việc T3 còn nợ T số tiền 32.000.000 đồng nhưng không chịu trả, đồng thời nhờ T4 và B đòi giúp T số tiền này, khi được T nhờ đòi nợ thì T4 từ chối, còn B thì đồng ý. Sau đó T cho B số điện thoại của mình. Sau khi nhậu xong thì T đi về thành phố Đ.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30-10-2023, Phạm Ngọc B gọi điện thoại cho T hỏi nhà của T3 ở đâu để B đến đòi nợ giúp T. Khi B hỏi về nơi ở của T3 thì T nói chưa biết nhà, khi nào tìm được nhà sẽ nói cho B biết. Chiều ngày 30-10-2023, T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49B1-816.46 đi từ thành phố Đ xuống xã N, huyện L để tìm nhà T3. Sau khi tìm thấy nhà T3 thì T chụp hình và gửi vị trí nhà T3 qua ứng dụng Zalo cho B, đồng thời hẹn B ngày 31-10-2023 sẽ cùng nhau đến nhà T3 để đòi tiền thì được B đồng ý.

Đến sáng ngày 31-10-2023, sau khi cả hai ăn sáng tại xã G xong, T và B cùng nhau đi đến nhà thuê của T2 với mục đích rủ T2 đi vào nhà của T3 để cùng đòi tiền. Khi đến nơi, B và T gặp T2 còn D đang nằm chơi điện thoại ở trong phòng ngủ. Tại nhà T2, T kể cho T2 nghe về việc T3 nợ T số tiền 32.000.000 đồng đã 05 năm rồi nhưng không chịu trả mà còn thách thức, T nhờ T2 đi cùng mình với B vào nhà của T3 ở xã N đòi tiền thì T2 đồng ý. Sau đó T2 đi vào trong phòng ngủ chỗ D đang nằm chơi điện thoại và nói với D “Có thằng kia nợ tiền anh T, anh với mày chạy vào xem thế nào”, D đồng ý. Sau đó T2 chở T bằng xe của T, còn B chở D bằng xe của B đi vào nhà của anh T3 tại thôn S, xã N để đòi tiền. Trước khi đi, B và D mỗi người mang theo một túi xách, bên trong mỗi túi đựng một con dao tự chế mũi nhọn, cán dao được cuốn băng keo đen với mục đích sử dụng để đe dọa, uy hiếp tình thần buộc T3 phải trả số tiền 32.000.000 đồng cho T. Trên đường đi vào nhà T3, Lê Sỹ H2, sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L gọi điện cho T2 hỏi T2 đang ở đâu thì T2 nói đang đi vào N có công việc nhưng không nói rõ là đi công việc gì, H2 xin đi cùng thì T2 đồng ý và đưa điện thoại của mình cho T nghe để T chỉ đường cho H2 đi vào nhà T3.

Khi T2, T, B, D đi đến nhà anh T3 thì thấy T3 đang đổ rác ở ngoài cổng. Vừa nhìn thấy T3, T liền chửi: “Mày nợ tiền tao, mày có tiền xây nhà, giờ tính quỵt tiền của tao hả, sao mày chặn số tao”. Vừa nói dứt lời, T dùng tay đấm vào mặt T3 hai cái rồi cầm mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đập một cái trúng vào phần hốc mắt bên trái của T3. Bị đánh, T3 không phản kháng lại mà lùi dần vào trong sân. Thấy vậy, B và D rút dao từ trong túi đang đeo trên người ra, đồng thời ngay tức khắc B dùng phần cán dao đánh vào đầu anh T3; D dùng cán dao đánh vào phần vai, lưng T3. Bị đánh nên T3 bỏ chạy vào trong phần sân đất sát hông nhà để né tránh, T, T2, B, D tiếp tục đi vào theo. Lúc này T2 sử dụng điện thoại của mình để quay video diễn biến vụ việc. Khi T yêu cầu T3 phải trả lại số tiền 32.000.000 đồng cho

4

mình thì T3 xin khất đến cuối năm sẽ trả đủ vì bây giờ không có tiền. Mặc dù, T3 đã van xin trả nợ sau nhưng T vẫn không đồng ý. Lúc này, T cùng T2, D, B đứng vây xung quanh chửi bới, đe dọa nhằm uy hiếp tinh thần buộc T3 phải thu xếp tiền để trả cho T. Tại đây, B vẫn cầm dao trên tay, còn D thì bỏ dao vào trong túi da mà mình đang đeo trên người. Khi cả nhóm đang đe dọa T3 thì Lê Sỹ H2 một mình đi đến, thấy T3 đang xây nhà mới mà lại nói không có tiền trả nợ nên H2 bức xúc và dùng tay đấm vào đầu, dùng chân đạp vào người của anh T3, vừa đánh vừa chửi. H2 dùng chân và tay đánh T3 xong thì nhóm của T tiếp tục yêu cầu T3 phải thu xếp tiền để trả cho T, nếu không trả thì không sẽ không được sinh sống yên ổn tại địa phương. Một lúc sau mặc dù đã đe dọa, ép buộc nhưng không lấy được tiền nên T, T2, D, B cùng nhau đi về. Khi đi ngang chỗ T3 đang đứng, thấy T3 đang nhìn về hướng của T, nghĩ T3 đang dùng mắt của mình để lườm T nên T2 đã dùng tay không tát hai cái vào mặt T3 thì được B can ngăn rồi tất cả cùng đi về quán T6 tại thị trấn N nhậu. Sau khi nhậu xong, T đi về Đ và nhờ Thận tối cùng ngày đi vào nhà T3 để đòi tiền giúp T thì được T2 đồng ý.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T2 và B tiếp tục đến nhà của anh T3 để đòi tiền cho T nhưng do anh T3 không có nhà nên cả hai quay về nhà Thận. Khi về đến nhà, T2 thông báo cho T về việc T3 không có mặt ở nhà nên không đòi được tiền.

Trong khoảng thời gian từ ngày 31-10-2023 đến ngày 02/11/2023, T liên tục nhắn tin đe dọa, ép buộc T3 phải trả tiền cho mình. Do lo sợ nên T3 đã gom góp được 10 triệu đồng nhằm trả một phần nợ trước để không bị T cùng đồng bọn đe dọa, cưỡng ép đòi tiền mình. Sau khi có được số tiền 10 triệu đồng, ngày 02-11-2023, T3 đã gọi điện cho T và nói T xuống nhà mình để trả tiền thì T đồng ý. Sau đó T gọi điện thoại rủ T2 đi cùng mình vào nhà T3 để lấy tiền. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T một mình đi xuống nhà T2 rồi cả hai đi vào nhà T3. Trước khi đi Thận mang theo một túi loại túi đựng cần câu màu xanh, bên trong đựng 01 con dao tự chế dài 82cm, cán dao được cuốn vải đen, mũi dao nhọn; 01 con dao tự chế dài 35cm, bản rộng 5.5cm, cán dao làm bằng gỗ cuốn băng keo màu đen, mũi nhọn để làm hung khí nhằm uy hiếp tinh thần, buộc T3 phải trả đủ tiền cho T. Khi T2, T đang trên đường đi vào nhà T3 thì B gọi điện thoại cho T2 hỏi T2 đang ở đâu. Lúc này T2 nói cho B biết đang đi cùng T vào nhà T3 lấy tiền. Khi cả hai vào đến nơi thì gặp một mình anh T3 đang ở nhà. Tại đây T3 nói với T và T2: “Bây giờ không có cách nào kiếm được tiền trả nợ đủ, chỉ có 10.000.000 đồng tiền công cho thợ xây nhà, nếu các anh cứ ép em thế này thì em tạm lấy tiền công thợ trả cho các anh trước, còn lại cuối năm em trả đủ”. Nghe T3 nói vậy thì T và T2 không đồng ý mà yêu cầu trong vòng 30 phút nữa T3 phải xoay đủ tiền cho T thì T mới cầm tiền. Lúc này B một mình đi đến và hỏi T3 đã trả tiền cho T chưa thì T trả lời là:

5

“Chưa”. Nghe vậy B đe dọa T3 “Mày không thu xếp tiền trả là không được đâu, mày cố tình mày biết tay tao”. Lúc này anh T3 không dám phản ứng gì mà chỉ biết đồng ý và nói sẽ cố gắng thu xếp tiền để trả. Sau đó cả nhóm đi đến quán cà phê cách nhà T3 khoảng 500 mét để chờ T3 thu xếp tiền. Khoảng 30 phút sau, T2, T, B quay lại nhà của T3 thì T3 nói chưa xoay được đủ tiền nên tất cả đi về nhà của T2. Trên đường đi, T2 hỏi vay T số tiền 3.000.000 đồng nhưng do không có tiền nên T nói với T2 là nếu T2 đang kẹt tiền mà T3 trả 10.000.000 đồng thì T2 cứ lấy mà dùng trước. Sau khi chở T2 về nhà ở xã G thì T cũng đi về Đ. Tại Đ, T liên tục nhắn tin, gọi điện để đe dọa, khủng bố tinh thần của T3, ép T3 phải trả tiền.

Do bị nhóm của T liên tục đe dọa, lo sợ sẽ bị nhóm này thực hiện hành vi gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của mình nên sau khi vay của bạn bè được số tiền 30.000.000 đồng thì đến khoảng 10 giờ ngày 03-11-2023, anh T3 gọi điện thoại hẹn T đến quán C1 ở thôn H, xã N để trả nợ nhằm mục đích không để nhóm của T tiếp tục đánh mình. Sau đó T gọi điện thoại cho T2 thông báo về việc chiều ngày 03-11-2023 T3 sẽ trả đủ tiền cho T và rủ T2 đi cùng mình đến quán C1 G lấy tiền. Khoảng 13 giờ cùng ngày T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49B1-816.46 đến nhà T thì gặp T2 và D đang ở nhà, T2 nói T đến điểm hẹn trước, còn T2 và D sẽ đi sau. Sau đó T một mình đi trước đến quán C1 Gió, còn T2 đi vào trong phòng chỗ D đang nằm và nói với D “T3 hẹn chiều nay trả đủ tiền cho T, anh với mày đi vào trong đó lấy tiền”, D đồng ý. Thận đi vào trong bếp lấy bốn con dao gồm 01 con dao tự chế dài 82cm, cán dao cuốn vải đen, mũi dao nhọn; 01 con dao tự chế dài 35cm, bản rộng 5.5cm, cán dao làm bằng gỗ và được cuốn băng keo màu đen, mũi nhọn; 01 con dao dài 1.08m, lưỡi dao bằng kim loại dài 39cm, bản rộng 05cm, đầu nhọn, cán bằng tre; 01 con dao bầu dài 98cm, bản rộng 17cm, đầu nhọn, cán được cuốn băng keo màu đen rồi để tất cả vào trong một túi đựng cần câu màu xanh; còn D mang theo một túi da màu đen, bên trong đựng hai con dao nhọn gồm 01 dao tự chế bằng kim loại, dài 35cm, bản rộng 2,5cm, mũi nhọn, cán dao cuốn băng keo đen; 01 dao tự chế bằng kim loại, dài 34cm, bản rộng 02cm, mũi nhọn, cán dao cuốn băng keo đen nhằm mục đích mang đến quán C1 đòi nợ thuê cho T. Sau khi chuẩn bị xong hung khí, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 49B1-445.85 mượn trước đó của ông Trần Hoài N1, sinh năm 1975, nơi cư trú: Thôn V, xã X, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, hiện cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện L tỉnh Lâm Đồng chở theo D đi đến quán C1 ở thôn H, xã N để gặp T3. Khi đến quán, T2, T, D ngồi vây xung quanh T3 để tạo áp lực. Lúc này T3 lấy 30.000.000 đồng để trả cho T. Khi mang tiền để trả cho T thì T3 xin lại T số tiền 10.000.000 đồng nhưng T không đồng ý mà chỉ đồng ý cho lại T3 1.000.000 đồng. Khi T đang cầm số tiền 29.000.000 đồng

6

mà T3 đưa thì bị Công an huyện L bắt quả tang, niêm phong, thu giữ toàn bộ tang vật gồm số tiền 29.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z-FOLD3, màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO F7, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 14 Promax, màu tím đen; 01 túi xách màu đen bên trong đựng 02 con dao tự chế; 01 túi vải loại túi đựng cần câu, màu xanh, bên trong có 04 con dao tự chế; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu xanh - đen, biển kiểm soát 49B1-816.46; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 49B1-445.85. Sau đó T, T2, D được đưa về trụ sở làm việc.

Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Hữu T2 tại thôn Q, xã G, huyện L. Quá trình khám xét cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ trong nhà Ngô Hữu T2 13 con dao tự chế; 02 típ sắt; 12 chai thủy tinh đựng dung dịch gồm sơn pha với mắm tôm; 01 lọ sơn hiệu “Lion” đã qua sử dụng; 01 vật thể hình trụ, nghi là đạn, màu vàng đồng, phần đáy hình tròn, đường kính 01cm, khắc các chữ số “31 67”, cao 5.5 cm, một đầu nhọn; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu xanh; 01 đầu thu camera hiệu @JHUA, màu đen. Ngoài ra còn phát hiện và thu giữ trong xe ô tô của Phạm Văn T4, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L đang để trong sân nhà Ngô Hữu T2 01 dao tự chế và 01 bình xịt hơi cay.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung T và Ngô Hữu T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình còn Đoàn Ngọc D quanh co, chối tội, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 29.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ - đen, BKS: 49B1-445.85; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu xanh - đen, BKS: 49B1-816.46; 01 túi vải màu xanh đựng 04 con dao tự chế; 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy Z-FOLD3; 01 túi xách màu đen bên trong đựng 02 con dao tự chế; 01 điện thoại hiệu OPPO F7; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 14 Promax, màu tím đen; 13 con dao tự chế, 02 típ sắt, 12 chai thủy tinh đựng dung dịch gồm sơn pha với mắm tôm, 01 lọ sơn hiệu “Lion”; 01 điện thoại Nokia, màu đen; 01 điện thoại hiệu Mastel, màu xanh; 01 đầu thu camera hiệu @JHUA, màu đen; 01 viên đạn màu vàng đồng, hình tròn mũi nhọn, mặt ngoài đáy ký hiệu “31 67”; 01 dao tự chế và 01 bình xịt hơi cay; 01 USB chứa video các bị can thực hiện hành vi đe dọa Lê Văn T3.

Ngày 18-01-2024, Phòng K Công an tỉnh L ban hành kết luận số 116/KL-KTHS với nội dung: 01 viên đạn màu vàng đồng, có dạng hình tròn, mũi nhọn, mặt ngoài đáy ký hiệu “31 67” gửi giám định là đạn cỡ 7,62 x 3 9mm, thuộc vũ khí quân dụng.

7

Ngày 18-3-2024, Phòng K (PC09) Công an tỉnh L ban hành kết luận số 307/KL-KTHS với nội dung: Dấu vân tay được lưu giữ tại các danh chỉ bản số 1983, 2749, 210, 117, 36, 614 trên và dấu vân tay được lưu giữ tại danh chỉ bản số 443 do Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng lập ngày 06-11-2023 đối với Ngô Hữu T2 là của cùng một người.

Về xử lý vật chứng: Ngày 28-3-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ban hành Quyết định xử lý tài sản đồ vật số 812 bằng hình thức trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh; 01 đầu thu camera nhãn hiệu @JHUA, màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là Ngô Hữu T2.

Ngày 13-11-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 63 bằng hình thức trao trả số tiền 29.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là Lê Văn T3.

Ngày 04-04-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 87 bằng hình thức trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 49B1- 445.85 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Trung H3, sinh năm 1964, nơi cư trú: Thửa 712, TBĐ 10, hẻm P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Quá trình điều tra bị can Nguyễn Trung T, Ngô Hữu T2 đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phạm Ngọc B, sinh năm 1999, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã nhiều lần tiến hành xác minh nhưng chưa thể triệu tập đối tượng này lên làm việc do đối tượng không có mặt tại địa phương. Đến nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa thu thập được đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm rõ vai trò của Phạm Ngọc B đối với vụ án trên, vì vậy chưa có đủ căn cứ để ra Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Ngọc B. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tách hành vi của B để tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ để làm rõ vai trò của đối tượng, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ dao, típ sắt, bình xịt hơi cay khi không có giấy phép sử dụng do cơ quan có thẩm quyền cấp của Ngô Hữu T2 và Phạm Văn T4 đã vi phạm vào nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31-12-2021 của Chính Phủ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60, 62 ngày 31-3-2024 xử phạt mỗi người số tiền 4.000.000 đồng.

Đối với Lê Sỹ H2 vào ngày 31-10-2023 có hành vi sử dụng tay đấm, chân đá vào người của anh Lê Văn T3 tại nhà của T3 ở thôn S, xã N, huyện L. Tuy nhiên,

8

khi thực hiện hành vi, mục đích của H2 không phải là để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản của T3 mà do sự bộc phát trong cảm xúc do thấy T3 có tiền xây nhà nhưng lại nói là bị người khác giật tiền, không có tiền để trả nợ. Sau khi bị H2 đánh, do bị thương tích nhẹ nên T3 không đi khám và không có yêu cầu gì. Vì vậy, hành vi của Lê Sỹ H2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 61 ngày 31-3-2024 với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Đối với Trần Hoài N1 đã cho Ngô Hữu T2 mượn xe mô tô biển kiểm soát 49B1-445.85 để T2 đi về nhà đang thuê tại thôn Q, xã G, huyện L tắm rửa. Sau đó T2 sử dụng chiếc xe này chở Đoàn Ngọc D đến quán C1 để cùng Nguyễn Trung T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Lê Văn T3. Khi T2 sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì N1 không biết, vì vậy không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trần Hoài N1.

Đối với 01 viên đạn màu vàng đồng, có dạng hình tròn, mũi nhọn, mặt ngoài đáy ký hiệu “31 67” thu giữ tại nhà thuê của Ngô Hữu T2. Ngày 18-01-2024, Phòng K Công an tỉnh L ban hành kết luận 01 viên đạn màu vàng đồng, có dạng hình tròn, mũi nhọn, mặt ngoài đáy ký hiệu “31 67” gửi giám định là đạn cỡ 7,62 x 39mm, thuộc vũ khí quân dụng. Do đó, ngày 27-02-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định tách hành vi và tài liệu có liên quan trong vụ án hình sự số 585 và chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan cùng viên đạn trên đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L để tiếp tục điều tra theo quy định.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 25-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trung T, Ngô Hữu T2, Đoàn Ngọc D về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 76/2024/HS-ST ngày 23-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03-11-2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Ngô Hữu T2, bị cáo Đoàn Ngọc D; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06-6-2024, bị cáo Nguyễn Trung T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

9

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, thừa nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập, nhưng giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về hành vi phạm tội: Trong khoảng thời gian 30-10-2023 đến 3-11-2023 bị cáo cùng đồng phạm liên tục có lời lẽ, hành động đe dọa sử dụng vũ lực nhằm uy hiếp tinh thần của bị hại là anh Lê Văn T3 để chiếm đoạt số tiền 29.000.000 đồng. Bị cáo cùng các đồng phạm có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp tài sản, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó cấp sơ thẩm kết án bị cáo cùng đồng phạm về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[4] Về hình phạt và kháng cáo:

Cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của bị cáo là chủ mưu, khởi xướng, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội; phạm tội có dấu hiệu băng nhóm, bị cáo thuộc trường hợp nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý hình sự nên xử nên xử phạt bị cáo mức án cao nhất trong các bị cáo với hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm, thể hiện tính răn đe và yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng: Bị cáo hiện là lao động chính, có cha già yếu; tại giai đoạn phúc thẩm được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa

10

bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung T; sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần mức hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trung T.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03-11-2023.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trung T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I - TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Lâm Hà (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lâm Hà (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Lâm Hà (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về cưỡng đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo; sửa án sơ thẩm, giảm mức hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger