Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Đình Định: Cán bộ hưu.

Bà Nguyễn Thị Bẩy: Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên trung cấp.

Hôm nay, ngày 24/9/2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 đối với bị cáo:

Ngô Quang Đ, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn X, xã Y, huyện G, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quang Đ1, sinh năm 1966 và bà Trần Thị T, sinh năm 1965; gia đình có 03 anh em, bị cáo là lớn nhất; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh 1991 và có 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Vũ Xuân C, luật sư Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1952; trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Thế P, sinh năm 1989, trú tại khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1983 - cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
  2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, tại đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố T. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T bắt quả tang Ngô Quang Đ đang giấu các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh, nghi là ma túy. Vật chứng thu tại túi quần bên trái phía trước Đ đang mặc 01 túi nilon màu đỏ bên trong chứa gói giấy màu trắng, trong gói giấy màu trắng có 02 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu hồng, trong 03 túi nilon này đều chứa các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh. Đ khai các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh bị thu giữ là ma túy do Đ vận chuyển thuê cho một người đàn ông tên B và được trả công 500.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng vào hộp giấy trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn T2 và anh Nguyễn Thế P. Ngoài ra, tổ công tác còn giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp sim số 0565.361.xxx.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại thôn X, xã Y, huyện G, Hà Nội nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1.348/KL - KTHS ngày 03/6/2024 Phòng K Công an tỉnh B đã kết luận:

“Các viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh bên trong 01 (một) túi nilon màu đỏ gửi giám định có khối lượng là 43,0175 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 13 giờ ngày 01/6/2024, Đ đang ở đường thuộc thôn X, xã Y, huyện G, Hà Nội thì gặp người đàn ông tên B trú tại khu phố C, phường Đ, thành phố T. Tại đây, B bảo Đ mang 03 đàn ma túy “Ngựa” giao cho M đang đợi ở đường B thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T, xong việc quay lại B sẽ trả công cho Đ 500.000 đồng, Đ đồng ý. B đưa cho Đ 01 túi ni lon màu đỏ bên trong chứa gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng là 3 đàn ma túy “Ngựa” được để trong các túi ni lon màu xanh và màu hồng, Đ biết rõ trong túi ni lon màu đỏ B đưa có ma túy và cầm túi ni lon này cất vào túi quần phía trước bên trái Đ đang mặc. Sau đó, Đ đón xe taxi đi từ thôn X, xã Y, G đến đường tỉnh lộ 295B thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T rồi xuống xe đứng đợi M đến nhận ma túy thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động tạm giữ của Đ thì Đ chỉ ra số điện thoại của B là người đưa ma túy cho Đ là 0942.289.688 và lưu trong danh bạ là “a binh bn”, số điện thoại của M người nhận ma túy là 0919.115.037.

Cơ quan điều tra yêu cầu nhà mạng cung cấp thông tin các số thuê bao trên, đã xác định:

  • Chủ đăng ký thuê bao di động số 0942.289.688 là anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1976, trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố T. Anh P1 khai: không sử dụng số điện thoại 0942.289.xxx, không quen biết Ngô Quang Đ và người tên B.
  • Chủ đăng ký thuê bao di động số 0919.115.037 là chị Dương Thị Cẩm N, sinh năm 1993, trú tại thôn P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị N cũng khai: không sử dụng số điện thoại 0919.115.xxx và không quen biết Ngô Quang Đ.

Tại Bản Cáo trạng số: 120/CT-VKSBN-P1 ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Quang Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Đầu giờ chiều ngày 01/6/2024, Đ được B đưa cho 01 túi ni lon màu đỏ bên trong có 3 đàn ma túy “Ngựa”, B bảo Đ đem giao cho M và sẽ cho Đ 500.000 đồng sau khi xong việc. Đ đã bị bắt quả tang tại đường tỉnh lộ 295B thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T khi đang đứng đợi M đến nhận ma túy. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên tội danh của bị cáo như Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Ngô Quang Đ từ 15 đến 16 năm tù. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định và trả lại bị cáo 01 điện thoại di động đã thu giữ. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Luật sư Vũ Xuân C bào chữa cho bị cáo tranh luận: Nhất trí với tội danh của Đ như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có tham gia nghĩa vụ quân sự, vợ ly thân, lượng ma túy bị bắt không lớn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt ở mức nhẹ nhất và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát trong đối đáp khẳng định đề nghị về tội danh, hình phạt, các nội dung khác trong là phù hợp, có căn cứ nên giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại gì, vì vậy là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào 14 giờ ngày 01/6/2024, bị cáo Đ đã bị bắt quả tang khi được B thuê với số tiền 500.000 đồng để đem 1 túi ni lon màu đỏ bên trong chứa 3 đàn ma túy “Ngựa” đến khu phố T, phường Đ, thành phố T để giao cho M. Tổng khối lượng ma túy Đ bị bắt là 43,0175 gam Methamphetamine. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, không oan.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy phải xử phạt nghiêm khắc.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy Đức phạm tội không có tình tiết tăng nặng nhưng vẫn cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo chưa được hưởng lợi từ việc vận chuyển trái phép chất ma túy, lại không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[4] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định, đối với 01 điện thoại di động của bị cáo có lưu tên của B và M, như vậy có căn cứ bị cáo dùng để giao dịch thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công.

Liên quan trong vụ án còn có đối tượng tên B theo Đ khai là người thuê Đ vận chuyển ma túy nhưng Đ không biết rõ địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phường Đ, thành phố T nhưng không xác định được đối tượng tên B có đặc điểm như Đ mô tả đang sinh sống tại địa bàn nên tiếp tục xác minh khi làm rõ để xử lý sau là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên M là người nhận ma túy, Đ cũng chưa gặp, không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên chưa có cơ sở xác minh.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Xử phạt bị cáo Ngô Quang Đ 15 năm tù (Mười lăm năm). Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Quang Đ thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định có dấu, chữ ký của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Ngô Quang Đ, 1986 ở Y, G, Hà Nội vận chuyển trái phép chất ma túy.

Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng kèm 01 sim của Ngô Quang Đ.

Các tài sản, vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 144/2024 ngày 30/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo Ngô Quang Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND; VKS Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; Luật sư; NTGTT khác;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Công Đồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự (vận chuyển trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Quang D phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger