Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày 30-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Luân
  2. Bà Cao Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2001, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch:Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Thanh X, sinh năm 1977; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: Tháng 3 năm 2021 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 4 năm 2023 xuất ngũ về địa phương. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31-5-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Thanh X, sinh năm 1977 (có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1976 (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Đều cư trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Những người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  2. Chị Cao Thị H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

3. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nên Nguyễn Ngọc Q nảy sinh ý định làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1 giả mang tên mình, mục đích để sử dụng khi tham gia giao thông. Ngày 19-02-2024, Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng của Q đăng nhập vào tài khoản facebook “Nguyen Ngoc Quan” vào mạng xã hội tìm thấy tài khoản Facebook “T - Nhận làm đăng ký xe các loại giấy tờ”. Thông qua tài khoản Facebook trên, Q nhắn tin đặt làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1 thì được trả lời giá làm 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 kèm theo 01 bộ hồ sơ là 1.100.000 đồng, việc giao tài liệu và thanh toán thông qua chuyển phát bưu điện dưới tiêu đề “Bản vẽ thiết kế”. Q đã gửi ảnh chân dung, ảnh căn cước công dân, số điện thoại 0369.117.xxx và địa chỉ nhà mình vào tài khoản Facebook trên. Đến ngày 09-3-2024 Q đến Bưu điện thị trấn H, huyện H nhận bưu phẩm từ chị Cao Thị H (là nhân viên bưu điện) và thanh toán cho chị H số tiền 1.100.000 đồng. Q nhận được bên trong gói bưu phẩm có hồ sơ gồm: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Ngọc Q, 01 Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe, 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, 01 Giấy khám sức khỏe của người lái xe. Quân kiểm tra thấy các tài liệu trên được ký tên đóng dấu sẵn, Q đã tự điền thông tin cá nhân và ký tên vào hồ sơ trên vàò tủ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định ngoài hành vi làm giả Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Ngọc Q; từ ngày 13-3-2024 đến ngày 03-4-2024, bằng phương thức nêu trên Nguyễn Ngọc Q đã nhận ảnh chân dung, ảnh Căn cước công dân gửi vào tài khoản Facebook “Trần O - Nhận làm đăng ký xe các loại giấy tờ” làm 03 Giấy phép lái xe mô tô giả số [...] hạng A1 mang tên Trần Thị X; số [...] hạng A1 mang tên Nguyễn Thị K; số [...] hạng A1 mang tên Nguyễn Văn D cho bà Trần Thị Thanh X, sinh năm 1977; bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1976; ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973, cùng cư trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Khi giao giấy phép lái xe mô tô hạng A1 giả mang tên bà K và ông D, Q giao cho bà K và bà Nguyễn Thị T (vợ ông D) 01 bộ hồ sơ gồm: 01 Giấy 01 Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe, 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, 01 Giấy khám sức khỏe của người lái xe đã ký tên đóng dấu sẵn và hướng dẫn bà K và bà T tự điền thông tin cá nhân vào các tài liệu đó và ký tên. Q làm giấy phép lái xe mô tô giả với giá 1.100.000 đồng/01 giấy phép lái xe nhưng thu của bà X, bà K và ông D 1.500.000 đồng/01 giấy phép lái xe. Từ việc làm giấy phép lái xe mô tô giả, Q đã thu lời bất chính số tiền 1.200.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 31-5-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Giấy phép lái xe số [...] hạng A1 mang tên Nguyễn Ngọc Q; số [...] hạng A1 mang tên Trần Thị Thanh X, số [...] hạng A1 mang tên Nguyễn Thị K, số [...] hạng A1 mang tên Nguyễn Văn D là giả.

Công văn số 1319 ngày 14-06-2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T xác định không tổ chức thi sát hạch lái xe mô tô và cấp biên bản tổng hợp kết quả lái xe cho Nguyễn Ngọc Q, Trần Thị Thanh X, Nguyễn Thị K và Nguyễn Văn D.

Bản cáo trạng số 129/CT-VKSHH ngày 16-9 -2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện trả lại cho bà K và ông D mỗi người số tiền là 1.100.000 đồng.

Bà Trần Thị Thanh X trình bày: Bà xác định lời trình bày của bị cáo là đúng, số tiền bị cáo thu của bà là 1.500.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà, bà đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31-5-2024; áp dụng khoản 4 Điều 341 hình phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước; Buộc bị cáo phảo nộp số tiền 1.200.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng; Lưu hồ sơ vụ án 04 bộ hồ sơ (thu của Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị K) được niêm phong trong 04 phong bì số 706 ghi hoàn trả mẫu vật giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T. Tịch thu để tiêu hủy 01 vỏ nilon màu đen bạc dán mã vận đơn EE101258757VN. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bà X không có ý kiến tranh luận; bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà K và ông D; người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản vụ việc, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 03-4-2024; Bản Kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Công văn số 1319 ngày 14-06-2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T; Công văn số 271 ngày 18-06-2024 của Bệnh viện G; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng bà Trần Thị Thanh X, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, cư trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, chị Cao thị H, và ông Lê Văn T1 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 19-02-2024 đến ngày 19-3-2024, qua mạng xã hội Facebook, bị cáo Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 2001, nơi cư trú thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình có hành vi cung cấp thông tin cá nhân, đặt làm giả 04 giấy phép lái xe hạng A1 và 04 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp mang tên Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 2001; Trần Thị Thanh X, sinh năm 1977; Nguyễn Thị K, sinh năm 1976 và Nguyễn Văn D, sinh năm 1973 cùng cư trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Q thu lợi từ việc làm giấy phép lái xe mô tô giả số tiền 1.200.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

“Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

....;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

....;

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; cùng gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho người liên quan số tiền mà bị cáo đã thu nên bị cáo được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo thực hiện hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức có mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo với số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Đối với 04 giấy khám sức khỏe của người lái xe thu giữ của bị cáo Q, bà K, ông D có hình dấu tròn có nội dung “BỘ Y TẾ ★ BỆNH VIỆN GTVT TW ★ GIÁM ĐỊNH Y KHOA”. Kết quả điều tra xác định được tạo ra bằng phương pháp in phun màu, không đúng với quy trình cấp giấy khám sức khỏe của người lái xe; Bệnh viện G không sử dụng hình dấu tròn tương tự hình dấu tròn trên các tài liệu này. Đối với 04 đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo Q, bà X, bà K và ông D có hình dấu “HỒ SƠ HỢP LỆ” được tạo ra bằng phương pháp in phun màu. Kết quả điều tra xác định các tài liệu này không có hình dấu xác nhận của cơ quan, tổ chức nào. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định các tài liệu trên không phải là tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bà X, bà K và ông D cung cấp hình ảnh chân dung và ảnh căn cước công dân cho bị cáo Q, nhờ Q liên hệ làm giấy phép lái xe mô tô mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã điều tra, xác minh, kết quả điều tra xác định bị cáo Q không trao đổi về cách thức, phương pháp nên bà X, bà K và ông D không biết việc Q đặt làm hồ sơ và giấy phép lái xe mô tô giả trên mạng xã hội Facebook nên không đồng phạm với bị cáo Q về tội “Làm giả tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của chị Nguyễn Thị T ký tên chồng là ông D vào biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe giả mang tên D, quá trình điều tra xác định chị T không biết tài liệu trên là giả vì vậy, chị T không đồng phạm với bị cáo Q trong vụ án này.

Đối với người trực tiếp làm các tài liệu giả trên gửi cho bị cáo Q qua dịch vụ chuyển phát của Bưu điện: 04 bưu phẩm (Giấy phép lái xe mô tô giả, kèm theo 04 hồ sơ trên) được gửi từ bưu cục N ở phường C, quận N, thành phố Hà Nội gửi theo hình thức ship COD (Bưu điện thu hộ số tiền 1.100.000 đồng); ghi người gửi là Nguyễn Văn Q1, địa chỉ: Cầu D, N, Hà Nội, số điện thoại 0342.982.xxx. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện trả cho bà K số tiền 1.100.000 đồng, ông D số tiền 1.100.000 đồng, bà K và ông D đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà X không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà số tiền 1.100.000 đồng nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 1.200.000 đồng bị cáo thu lời từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền trên để nộp ngân sách nhà nước. Do bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 tại Chi cục thi hanh án dân sự huyện H nên cần đối trù đi số tiền này, số tiền còn lại cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với 04 bộ hồ sơ (thu của bị cáo Q, ông D, bà K) được niêm phong trong 04 phong bì số 706 ghi hoàn trả mẫu vật giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T lưu tại hồ sơ vụ án la phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng để đặt làm giả tài liệu vì vậy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước; 01 vỏ nilon màu đen bạc dán mã vận đơn EE101258757VN không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Làm giả tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31-5-2024.

    Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quân S tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước).

  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải nộp số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Đối trừ đi số tiền bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng tại biên lai thu số 0002377 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, trả lại bị cáo số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Lưu hồ sơ vụ án 04 bộ hồ sơ (thu của Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị K) được niêm phong trong 04 phong bì số 706 ghi hoàn trả mẫu vật giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng đã qua sử dụng. Tịch thu để tiêu hủy 01 vỏ nilon màu đen bạc dán mã vận đơn EE101258757VN.

    Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16-9-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q và bà Trần Thị Thanh X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QL và NV LQ;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - CQCSĐT Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc Quân phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger