Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HS-ST

Ngày: 04/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Thẩm phán: Ông Trần Hữu Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh

Ông Nguyễn Phi Hùng

Ông Đoàn Ngọc Đăng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ THỊ S, sinh ngày 30/12/1967 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn K (chết) và bà Nguyễn Thị K1 (còn sống); Có chồng Phạm E (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1987 nhỏ nhất 2001); Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 20/02/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. (Bản án số: 21/2009/HSPT). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án, nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/9/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị S: Ông Bùi Xuân N - Luật sư Đoàn luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.

Người bị hại:

  1. Ông Trương Bá Trọng P, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Tổ A, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  3. Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  4. Bà Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng T2; sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn G, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Ông Trương Văn L; sinh năm 1957; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  3. Ông Phùng Tấn N2; sinh năm 1962; Nơi cư trú: tổ T, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  4. Ông Trần Văn A; sinh năm 1988; Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  5. Bà Tán Thị Phương D; sinh năm 1976; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  6. Ông Phạm Xuân G; sinh năm 1987; Nơi cư trú: tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  7. Ông Nguyễn Xuân A1; sinh năm 1980; Nơi cư trú: tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; hiện đang chấp hành án tại Trại giam B, xã B, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn T3; sinh năm 1972; Nơi cư trú: L, D, D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  9. Bà Lê Thị Việt H; sinh năm 1988; Nơi cư trú: tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  10. Bà Đinh Thị V; sinh năm 1975; Nơi cư trú: tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  11. Ông Phạm Tấn P1; Nơi cư trú: tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mặc dù Lê Thị S không có hiểu biết gì về quy trình, không có khả năng làm được các thủ tục liên quan đến đất đai nhưng đã đưa ra thông tin gian dối là mình có khả năng làm được các thủ tục liên quan đến đất đai trên địa bàn huyện H, đưa ra thông tin gian dối về việc mua bán nhà, đất tại quận L, thành phố Đà Nẵng để chiếm đoạt tiền của nhiều người, cụ thể:

Vụ thứ 1: Lừa đảo chiếm đoạt của ông Trương Bá Trọng P 89.000.000 đồng (T4 mươi chín triệu đồng).

Vào ngày 20/8/2022, ông Trương Bá Trọng P nhờ Lê Thị S giúp làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là sổ đỏ, cấp đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng) đối với sổ đỏ số 00412 QSDĐ/661/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 02/7/2001 cho gia đình anh P (tên chủ hộ: Trương Văn L, là cha của anh P). Sau khi hứa giúp anh P thì S yêu cầu anh P đưa 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để cấp đổi sổ đỏ nói trên, nếu làm nhanh thủ tục cấp sổ đỏ thì phải đưa 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng), anh P đồng ý. Trong năm 2022 (không nhớ thời gian cụ thể) anh P đã nhiều lần đưa tiền tổng cộng 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng) cho S để nhờ giúp cấp đổi sổ đỏ nói trên, còn lại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) thì anh P trao đối với S sẽ gửi đủ nếu S làm được. Sau khi nhận được tiền và sổ đỏ S đến bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng nộp hồ sơ. Tại đây cán bộ tiếp nhận đã hướng dẫn Sâm bổ sung hồ sơ rồi S đi về. Thời gian sau thì Văn phòng Đ chi nhánh huyện H, thành phố Đà Nẵng trả lại hồ sơ nói trên cho S vì lý do chưa xác định được mốc giới, ranh giới của thửa đất. Sâm nhận sổ đỏ về và thông báo lại cho anh P biết thì anh P yêu cầu S trả lại sổ đỏ và số tiền mình đã đưa cho S nhưng S chỉ trả lại sổ đỏ của gia đình anh P, còn số tiền 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng) S đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 19/3/2023, S viết giấy xác nhận có nhận số tiền 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng) của P và cam kết hoàn thành hồ sơ cấp đổi sổ đỏ nói trên cho P nhưng đến nay S không thực hiện.

Cùng trong thời gian 2022, Anh Trương Bá Trọng P có mối quan hệ quen biết với ông Phùng Tấn N2 và biết ông N2 có nhu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất khai hoang lô đất nêu trên. Anh P đã liên hệ S để hỏi về việc làm giấy tờ đất cho ông N2 thì S đồng ý nhận làm. Do ông N2 không có tiền và thỏa thuận làm xong sẽ cắt một phần đất cho anh P, nên anh P đã lấy tiền cá nhân đưa cho S nhiều lần tổng cộng: 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng) nhưng không viết giấy giao nhận tiền. Sau khi nhận tiền của anh P, S không thực hiện theo thỏa thuận, anh P đòi lại tiền thì S gian dối nói đã đưa tiền cho ông Nguyễn H1 (còn gọi là Một), ở Túy Loan Đ, H, H để làm giúp nhưng hiện nay ông H1 đã chết nên vẫn chưa làm thủ tục cấp sổ đỏ đối với thửa đất nêu trên. Anh P không tin và tiếp tục đòi lại tiền thì S đưa ra thông tin khác là ông M đã nhờ qua một người khác tên là Lê C (S: 1964, chỗ ở : Tổ A, Y, H, H, Đà Nẵng) nhận làm thủ tục cấp sổ đỏ cho ông N2 và gửi qua zalo hình ảnh giấy thỏa thuận làm hồ sơ đất với ông Lê C do S viết cho anh P xem để anh P tin tưởng. Đến ngày 19/3/2023, do thấy S không thực hiện được như thỏa thuận, anh P nhiều lần đòi Sâm trả lại tiền thì S có viết lại một giấy xác nhận có nhận 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng) thỏa thuận hoàn thành hồ sơ đất trong 30 ngày. Qua xác minh tại xã H xác định: tại địa phương không có ai tên là Lê C có thông tin lai lịch như trên.

Tổng số tiền Lê Thị S đã chiếm đoạt của Trương Bá Trọng P là 89.000.000đ (T4 mươi chín triệu đồng).

Vụ thứ 2: Lừa đảo chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn T 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

Cũng trong thời gian năm 2022, sau khi nhận 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng) của anh P để làm hồ sơ liên quan đến lô đất của ông Phùng Tấn N2, S gặp ông Nguyễn Văn T và nói rằng mình có khả năng làm được thủ tục quy chủ cho thửa đất khai hoang của ông Phùng Tấn N2 ở thôn Đ, Xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Mặc dù không có khả năng làm được thủ tục quy chủ cho thửa đất nêu trên, nhưng S nói ông T chung tiền để làm và chia lợi nhuận. Ông T tin tưởng, đồng ý đưa S 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) nhưng không làm giấy giao nhận tiền. Tuy nhiên S không làm được thủ tục quy chủ đối với thửa đất của ông N2 nên vào ngày 19/3/2023, ông T nhiều lần đòi Sâm trả lại tiền nhưng S chỉ viết giấy xác nhận có nhận số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Số tiền chiếm đoạt S sử dụng tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 3: Lừa đảo chiếm đoạt của ông Nguyễn Anh T1 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Vào đầu tháng 4/2022, Ông Nguyễn Anh T1 có mua của ông Nguyễn Văn T (có lai lịch như trên) một lô đất số 44, tờ bản đồ số 51 tại G, H, H, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian này, ông T1 được ông T giới thiệu gặp Sâm nhờ làm các thủ tục cấp đổi, tách thửa, chuyển mục đích liên quan đến lô đất nói trên. Mặc dù không hiểu biết về thủ tục làm hồ sơ về đất đai nhưng S đồng ý nhận hồ sơ và thực hiện theo thỏa thuận với ông T1.

Từ khoảng tháng 4 đến tháng 7/2022 thì ông T1 chuyển khoản cho S tổng cộng số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi nhận tiền của ông T1, để ông T1 tin tưởng S có khả năng thực hiện đúng thỏa thuận, S đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đưa cho Trần Văn A (làm nghề dịch vụ về đất đai) để nhờ ông A làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc này ông A thỏa thuận với Sâm tiền hợp đồng dịch vụ đo đạt, cắm mốc giới bằng bê tông xung quanh thửa đất và lệ phí nộp hồ sơ cấp đổi sổ hồng cùng chi phí xăng cộ đi lại hết số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) thì S đồng ý, A còn nói nếu phát sinh chi phí thuế xây dựng hay các chi phí khác thì S phải chịu và trực tiếp đi nộp. Vài ngày sau thì A dẫn các nhân viên đo đạt lên đo thửa đất và phát hiện trên thửa đất có một ngôi nhà cấp bốn chưa được thể hiện trên sổ hồng. Do vậy, A có nói với S là sẽ thể hiện ngôi nhà này lên sổ hồng luôn, A và S đã đến Ngân hàng N3 để nộp lệ phí xây dựng của ngôi nhà này là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Đến khoảng tháng 6/2022 thì A báo với S là cấp đổi xong bìa hồng rồi nên S có báo lại cho ông T biết. A có nói với S là có nhờ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tách thửa đối với thửa đất này không thì S không trả lời vì số tiền còn lại là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 4: Lừa đảo chiếm đoạt của bà Trần Thị Thúy N1 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Năm 2021, bà Trần Thị Thúy N1 được S giới thiệu, mua giúp một căn nhà cấp bốn ở quận L, thành phố Đà Nẵng với giá 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Sau khi được S dẫn đi xem nhà xong, N1 đã đưa cho S tổng cộng 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng), cụ thể: Từ tháng 9/2021 đến tháng 3/2022 bà N1 đã nhiều lần chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng V1 (số tài khoản: 0041000390982) của S 109.900.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu chín trăm nghìn đồng). Cùng trong thời gian này, bà N1 có nhờ S đến gặp Nguyễn Xuân A1 để lấy giúp 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) mà Xuân A1 nợ N1 trước đó. Ông Nguyễn Xuân A1 đã đưa tiền cho S nhiều lần bằng hình thức đưa tiền mặt và chuyển khoản. Ngoài ra bà N1 còn đưa tiền mặt cho S nhiều lần khác nhưng không có tài liệu thể hiện.

Bà Trần Thị Thúy N1 cung cấp nhiều tập tin ghi âm cuộc nói chuyện giữa Lê Thị S và Trần Thị Thúy N1, và nội dung trao đổi có thể hiện việc giao nhận tiền, có đưa ra nhiều thông tin về việc mua giúp cho bà N1 một căn nhà. Cơ quan điều tra đã giám định các tập tin ghi âm. Bản Kết luận giám định số 143 ngày 5/2/2024 của Phòng K2 C1 thể hiện trong file ghi âm mà bà N1 cung cấp có đoạn Sâm xác nhận đã nhận của bà Trần Thị Thúy N1 tổng cộng 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Lê Thị S đã thừa nhận đưa thông tin gian dối về việc ngôi nhà ông Phạm Xuân G rao bán để nhận 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng) mua nhà và làm hợp đồng điện nước của ngôi nhà giúp cho bà Trần Thị Thúy N1. Số tiền chiếm đoạt được S sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tổng số tiền Lê Thị S lừa đảo chiếm đoạt tài sản là: 644.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu đồng).

* Tang tài vật tạm giữ.

Anh Trương Bá Trọng P giao nộp: 01 (một) giấy nhận tiền đề ngày 19/3/2023 có chữ ký của người viết tên Lê Thị S; 01 (một) giấy nhận tiền (làm hồ sơ đất ông Phùng Tấn N2) đề ngày 19.3.2023 có chữ kí của người viết tên Lê Thị S.

Chị Trần Thị Thúy N1 giao nộp: 01 (một) USB có chứa các file ghi âm cuộc nói chuyện giữa Trần Thị Thúy N1 và Lê Thị S

Tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKSĐN-P2 ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Mặt dù trong quá trình điều tra bị cáo còn khai báo quanh co né tránh, về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng truy tố, đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng pháp luật, bị cáo mong HĐXX xem xét hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, để xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm cải tạo tốt, sớm về với GIA đình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Thị S tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKSĐN-P2 ngày 25/10/2024 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự .

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Qua đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

+ Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm h, g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS.

Xử phạt : Bị cáo Lê Thị S từ 12 (Mười hai) năm đến 13 (Mười ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS và Điều 589 BLDS buộc bị cáo Lê Thị S bồi thường trả lại cho các người bị hại số tiền đã chiếm đoạt theo yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. tiếp tục lưu giữ các tài liệu, chứng cứ do các bị hại giao nộp (có tại hồ sơ vụ án) theo quy định của pháp luật.

- Luật sư Bùi Xuân N người bào chữa cho bị cáo Lê Thị S có quan điểm luận cứ bào chữa và đề nghị như sau: Thống nhất về tội danh, điểm khoản, điều luật như Bản cáo trạng số 138/CT-VKSĐN-P2 ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là đúng pháp luật, nên không có tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, về hình phạt luật sư đề nghị HĐXX xem xét những tình tiết sau: Mặc dù, trong giai đoạn điều tra ban đầu bị cáo còn khai quanh co, né tránh về hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên, sau đó bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, luật sư đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố, như đề nghi của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN.

Những người bị hại có mặt tại phiên tòa đề nghị HĐXX như sau: Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo S bồi thường trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Về trách nhiệm hình sự: xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt; Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên (thuộc thành phố Đà Nẵng) trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị S tại phiên toà; Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Luận cứ, bào chữa của Luật sư người bào chữa cho bị cáo, lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

[3.1] Để có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân, bị cáo Lê Thị S, tuy không có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và không có hiểu biết gì về quy trình cũng như khả năng làm được các thủ tục liên quan đến lĩnh vực nhà, đất, nhưng bị cáo đã tự đưa ra những thông tin gian dối đối với những người bị hại mình có khả năng làm được các thủ tục liên quan đến lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện H và việc môi giới mua bán nhà đất tại quận L, thành phố Đà Nẵng, qua đó làm cho các bị hại tin tưởng đưa và chuyển tiền cho bị cáo rồi chiếm đoạt. Cụ thể: Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 6 năm 2022, trên địa bàn huyện H, thành phố Đà Nẵng bị cáo đã nhiều lần đưa ra những thông tin gian dối làm thủ tục cấp đổi, tách thửa, chuyển mục đích quyền sử dụng đất và giới thiệu mua nhà đất, qua đó chiếm đoạt của anh Trương Bá Trọng P 89.000.000 đồng (T4 mươi chín triệu đồng); anh Nguyễn Văn T 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); ông Nguyễn Anh T1 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) và bà Trần Thị Thúy N1 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là: 644.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu đồng) sử dụng chi tiêu cho mục đích cá nhân.

[3.2] Hành vi nêu trên tại tiểu mục [3.1] của bị cáo Lê Thị S là đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 BLHS.

[3.3] Xét thấy, tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại có giá trị tài sản “Từ 500.000.000 đồng trở lên” là thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số: 172/CT-VKSĐN-P2 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo S theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về nhân thân bị cáo HĐXX nhận thấy:

[4.1] Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bởi lẽ quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên một cách trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý, tùy theo tính chất mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra, bị cáo S có đủ nhận thức về điều đó, song vì muốn có tiền chi tiêu cho nhu cầu mục đích cá nhân, bị cáo bất chấp sự trừng trị của pháp luật tự đưa ra những thông tin gian dối không có thật để làm cho những người bị hại tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo rồi chiếm đoạt với tổng số tiền 644.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình tình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng bắt khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo ra trước pháp luật để xử lý răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo là người đã có tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm, đồng thời thực hiện hành chiếm đoạt nhiều lần tiền của 04 (bốn) bị hại là thuộc trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên”, nên bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm ” và “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại các điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[5] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung chung thân, bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng, và chỉ có một tình tiết giảm nhẹ, số tiền chiếm đoạt của các người bị hại, bị cáo chưa khắc phục được đồng nào. Do đó, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Xét luận cứ bào chữa và ý kiến đề nghị của luật sư tại phiên tòa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp với phần nhận định của HĐXX tại tiểu mục [4.3] nên ghi nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, và tại phiên tòa các bị hại gồm: Ông P, ông T1, ông T và bà N1 đều có chung yêu cầu buộc bị cáo S bồi thường lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của các bị hại là chính đáng, không trái quy định của pháp luật, nên căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lê Thị S phải có nghĩa vụ bồi thường trả lại cho các bị hại theo quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục thu giữ lưu tại hồ sơ vụ án các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo do các bị hại giao nộp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

[9.1] Về án phí: Bị cáo Lê Thị S phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo luật định.

[9.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

II. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị S: 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 20/9/2023.

III. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự;

3.1. Buộc bị cáo Lê Thị S phải có nghĩa vụ bồi thường trả lại cho cho các bị hại gồm:

3.1.1. Ông Trương Bá Trọng P số tiền 89.000.000 đồng (T4 mươi chín triệu đồng);

3.1.2. Ông Nguyễn Văn T số tiền: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);

3.1.3. Ông Nguyễn Anh T1 số tiền: 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng)

3.1.4. Bà Trần Thị Thúy N1 số tiền: 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Tổng số tiền buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại là: 644.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

IV. Về xử lý vật chứng: Căn cứ 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án gồm: 01 (một) giấy nhận tiền đề ngày 19/3/2023 có chữ ký của người viết tên Lê Thị S; 01 (một) giấy nhận tiền (làm hồ sơ đất ông Phùng Tấn N2) đề ngày 19.3.2023 có chữ kí của người viết tên Lê Thị S và 01 (một) USB có chứa các file ghi âm cuộc nói chuyện giữa Trần Thị Thúy N1 và Lê Thị S (đã lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

V. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị S phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 29.760.000 đồng. (Hai mươi chín triệu bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

VII. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảo sao bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV- Công an TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan THAHS – Công an TP Đà Nẵng;
  • - Trại tạm giam Công an TP Đà Nẵng;
  • - Cục THADS TP Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Vĩnh Chuyển

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 126/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Sâm lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger