Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
  • Ông Bùi Văn Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 94/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Hoàng Bá V, sinh năm 1992; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Y, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Ngô Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Hoàng Bá V đăng ký kết hôn ngày 31/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Năm 2022, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên anh V đi lao động tại Đài Loan. Lúc này mẫu thuẫn đã trở nên trầm trọng, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, áp lực kinh tế gia đình, công việc mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, chị T xác định không còn tình cảm với anh V nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

- Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Hoàng Thị Thu P, sinh ngày 26/10/2013, Hoàng Khánh C, sinh ngày 05/02/2017 và Hoàng Bá Minh K, sinh ngày 16/3/2020. Hiện nay các con chung đang sống cùng với chị T. Khi ly hôn, chị T mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với anh Hoàng Bá V do người thân cung cấp, có sự chứng kiến của bà Trần Thị T1 (mẹ đẻ của anh V), nội dung anh trình bày như sau:

Về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị T khai là đúng. Vợ chồng hiện nay sống mỗi người một nơi, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, nhưng nay chị T yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn vì vẫn muốn giữ gìn cuộc sống gia đình cho các con có đầy đủ cả bố lẫn mẹ. Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Hoàng Thị Thu P, sinh ngày 26/10/2013, Hoàng Khánh C, sinh ngày 05/02/2017 và Hoàng Bá Minh K, sinh ngày 16/3/2020. Nay các con đang sống cùng với chị T. Trường hợp ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Thu P và cháu Hoàng Bá Minh K, đồng ý giao cháu Hoàng Khánh C cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho chị gái là chị Hoàng Thị T2, trú tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử:

  • - Chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Hoàng Bá V.
  • Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Hoàng Thị Thu P, sinh ngày 26/10/2013, Hoàng Khánh C, sinh ngày 05/02/2017 và Hoàng Bá Minh K, sinh ngày 16/3/2020, nay đang sống cùng với chị T. Khi ly hôn, giao ba cháu Hoàng Thị Thu P, Hoàng Khánh C và Hoàng Bá Minh K cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh Hoàng Bá V đang sống và làm việc tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên Tòa án đã thông qua gia đình để thu thập đầy đủ ý kiến anh V đối với vụ việc giải quyết ly hôn. Theo văn bản số 17540/QLXNC-P3 ngày 06/8/2024 của Cục Q thì anh Hoàng Bá V đã xuất cảnh lần cuối ngày 08/10/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Do điều kiện công việc nên anh V đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu liên quan đến vụ án đề nghị Tòa án gửi về cho chị gái là chị Hoàng Thị T2 để giao nhận các tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị T và anh V theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Hoàng Bá V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình nên năm 2022, anh V đi lao động tại Đài Loan, lúc này mẫu thuẫn đã trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, áp lực kinh tế gia đình, công việc mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Chi Thuận xác định không còn tình cảm với anh V, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh V cũng thừa nguyên nhân mâu thuẫn như ý kiến của chị T trình bày, nhưng chị T xin ly hôn, anh V không đồng ý.

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị T và anh V không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy không còn tình cảm với nhau mặc dù anh V không đồng ý ly hôn nhưng xét thấy quá trình phát sinh mẫu thuẫn đến nay, anh V không có biện pháp gì để hàn gắn, vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị T.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là tên Hoàng Thị Thu P, sinh ngày 26/10/2013, Hoàng Khánh C, sinh ngày 05/02/2017 và Hoàng Bá Minh K, sinh ngày 16/3/2020. Nay ba cháu đang sống cùng với chị N. Chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Anh V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Thu P và cháu Hoàng Bá Minh K, đồng ý giao cháu Hoàng Khánh C cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh V đang sinh sống và lao động ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Mặt khác, từ trước đến nay các con chung đều sống cùng với chị T, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con thì giao các con chung cho chị T được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị T. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Hoàng Bá V.

2. Về con chung: Giao các con chung Hoàng Thị Thu P, sinh ngày 26/10/2013, Hoàng Khánh C, sinh ngày 05/02/2017 và Hoàng Bá Minh K, sinh ngày 16/3/2020 cho chị Ngô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Hoàng Bá V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Buộc chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0000881 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 126/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngô Thị T yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Bá V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger