Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 126/2024/DSST

Ngày: 24-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC – TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Hương Huyền.
  2. Ông Nguyễn Thanh Dũ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TB-TLVA ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Tô Thị N, sinh năm 1967 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
  • * Bị đơn:
  • - Bà Võ Thị K, sinh năm 1967 (vắng mặt không lý do).
  • - Ông Trần Văn M, sinh năm 1966 (vắng mặt không lý do).
  • Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Tô Thị N trình bày:

Bà làm chủ hụi, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia chơi hụi, các dây hụi như sau:

  • Dây hụi 01: 5.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 02/2017 (âm lịch), hụi gồm 16 phần, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia 01 phần, hụi khui đến lần thứ 7 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K không đóng hụi chết. Hụi đến tháng 11/2020 kết thúc. Dây hụi này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 09 kỳ x 5.000.000đồng = 45.000.000đồng. Yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 12/2020 tạm tính đến tháng 04/2024 (40 tháng), được tính 45.000.000đồng x 0,83%/tháng x 40 tháng = 14.940.000đồng.
  • Dây hụi 02: 2.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 09/2017 (âm lịch), hụi gồm 13 phần, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia 03 phần cụ thể như sau :
    • Phần thứ 1, hụi khui đến lần thứ 5 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K đóng được 01 lần hụi chết là kỳ thứ 06 thì ngưng không đóng hụi chết. Phần này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 01 kỳ x 2.000.000đồng = 14.000.000đồng
    • Phần thứ 2, hụi khui đến lần thứ 6 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K không đóng hụi chết. Phần này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 02 kỳ x 2.000.000đồng = 12.000.000đồng.

Hụi khui đến tháng 9/2020 kết thúc.

Như vậy, dây hụi này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà P thứ 1 số tiền là 14.000.000đồng + Phần thứ 2 số tiền là 12.000.000đồng, tổng cộng là 28.000.000đồng - phần hụi sống phần thứ 3 số tiền là 12.000.000đồng, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà số tiền 16.000.000đồng. Yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 10/2020 tạm tính đến tháng 04/2024 (42 tháng), được tính 16.000.000đồng x 0,83%/tháng x 42 tháng = 5.577.600đồng.

Tại thời điểm ông M, bà K tham gia hụi do bà làm chủ hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông M, bà K nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân, số tiền nợ hụi là nợ chung của ông M, bà K.

Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Trần Văn M bà Võ Thị K và phải trả cho bà tổng số tiền hụi gốc là 61.000.000đồng và tiền lãi tạm tính đến tháng 4/2024 là 20.517.600đồng. Tổng cộng là 81.517.600đồng (tám mươi mốt triệu năm trăm mười bảy nghìn sáu trăm đồng) và tiếp tục tính lãi cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Yêu cầu trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Đối với bị đơn ông Trần Văn M và bà Võ Thị K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án căn cứ trình bày của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định: quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Hợp đồng góp hụi”

[1] Về thủ tục tố tụng Nguyên đơn đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Theo nguyên đơn bà Tô Thị N trình bày:

Bà làm chủ hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia dây hụi như sau:

  • Dây hụi 01: 5.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 02/2017 (âm lịch), hụi gồm 16 phần, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia 01 phần, hụi khui đến lần thứ 7 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K không đóng hụi chết. Hụi đến tháng 11/2020 kết thúc. Dây hụi này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 09 kỳ x 5.000.000đồng = 45.000.000đồng. Bà Nguyệt yêu cầu tạm tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 12/2020 đến tháng 04/2024 là 45.000.000đồng x 0,83%/tháng x 40 tháng = 14.940.000đồng.
  • Dây hụi 02: 2.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 09/2017 (âm lịch), hụi gồm 13 phần, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K tham gia 03 phần:
    • Phần thứ 1, hụi khui đến lần thứ 5 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K đóng được 01 lần hụi chết là kỳ thứ 06 thì ngưng không đóng hụi chết. Phần này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 01 kỳ x 2.000.000đồng = 14.000.000đồng.
    • Phần thứ 2, hụi khui đến lần thứ 6 vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K hốt hụi, sau khi hốt hụi vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K không đóng hụi chết. Phần này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà 02 kỳ x 2.000.000đồng = 12.000.000đồng.

Hụi khui đến tháng 9/2020 kết thúc.

Như vậy, dây hụi này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà N: Phần thứ 1 số tiền là 14.000.000đồng + Phần thứ 2 số tiền là 12.000.000đồng, tổng cộng là 28.000.000đồng – phần hụi sống phần thứ 3 số tiền là 12.000.000đồng, vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ bà N số tiền 16.000.000đồng. Bà N1 yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 10/2020 đến tháng 04/2024 (là 42 tháng) 16.000.000đồng x 0,83%/tháng x 42 tháng = 5.577.600đồng

Tại thời điểm ông M, bà K tham gia hụi do bà N1 làm chủ hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông M, bà K nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân, số tiền nợ hụi là nợ chung của ông M, bà K.

Bà Nguyệt khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Trần Văn M bà Võ Thị K trả bà N1 tổng số tiền hụi gốc là 61.000.000đồng và tiền lãi tạm tính đến tháng 4/2024 là 20.517.600đồng. Tổng cộng là 81.517.600đồng (tám mươi mốt triệu năm trăm mười bảy nghìn sáu trăm đồng) và tiếp tục tính lãi cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Yêu cầu trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Trần Văn M bà Võ Thị K vắng mặt không lý do và không nộp văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án xét thấy, trình bày và yêu cầu khởi của nguyên đơn bà Tô Thị N là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chơi hụi bà N có sổ hụi và lập danh sách hụi viên tham gia chơi hụi đóng hụi, hốt hụi. Do đó, căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án công nhận những tình tiết nguyên đơn bà Tô Thị N trình bày nêu trên là sự thật. Như vậy, Tòa án có đủ cơ sở xác định vợ chồng ông Trần Văn M bà Võ Thị K tham gia chơi hụi như trên và còn nợ lại bà Tô Thị N số tiền hụi gốc là 61.000.000đồng, bà Tô Thị N yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng từ lúc nợ hụi đến ngày xét xử sơ thẩm, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở phù hợp pháp luật, Tòa án chấp nhận. Như vậy, số tiền nợ hụi được tính lãi suất như sau :

  • Dây hụi 01: 5.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 02/2017 (âm lịch). Dây hụi này vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ lại bà Tô Thị N 09 kỳ x 5.000.000đồng = 45.000.000đồng. Bà N1 yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm tháng 10/2024 (46 tháng), được tính 45.000.000đồng x 0,83%/tháng x 46 tháng = 17.181.000đồng.
  • Dây hụi 02: 2.000.000đồng, 03 tháng khui 01 lần, khởi khui tháng 09/2017 (âm lịch), vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K còn nợ bà Tô Thị N số tiền 16.000.000đồng. Bà N1 yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ tháng 10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm tháng 10/2024 (là 48 tháng), được tính 16.000.000đồng x 0,83%/tháng x 48 tháng = 6.374.400đồng.

Tòa án cần buộc vợ chồng ông Trần Văn M và bà Võ Thị K có nghĩa vụ liên đới trả bà Tô Thị N số tiền nợ hụi là 61.000.000đồng và tiền lãi là 23.555.400đồng, tổng cộng số tiền 84.555.400đồng, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Văn M và bà Võ Thị K phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N.

  1. Buộc ông Trần Văn M và bà Võ Thị K có nghĩa vụ liên đới trả bà Tô Thị N số tiền nợ hụi là 61.000.000đồng và số tiền lãi là tổng cộng số tiền, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.
  2. Kể từ ngày bà Tô Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn M và bà Võ Thị K chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về án phí:
  4. Ông Trần Văn M và bà Võ Thị K phải chịu số tiền 4.227.770đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại bà Tô Thị N số tiền 2.038.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003507, ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang.

  5. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Tân Phước - TG;
  • - THADS huyện Tân Phước- TG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huỳnh Trường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/DSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC – TIỀN GIANG về hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 126/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC – TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger