Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 126/2024/DS-ST

Ngày: 24-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toàn Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Chiếm

Bà Lê Thị Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 287/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Viết tắt: Ngân hàng B);

Địa chỉ trụ sở chính: T, Số A Đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Võ Minh D, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh L, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 01/7/2024).

Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông D:

  1. Ông Võ Thiện N, chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Quản lý khách hàng cá nhân;
  2. Ông Nguyễn Minh T, chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Quản lý khách hàng cá nhân;
  3. Ông Lê Hữu P, chức vụ: Cán bộ Phòng quản lý khách hàng cá nhân;
  4. Bà Ngô Thị Thanh X, chức vụ: Cán bộ Phòng quản lý khách hàng cá nhân;

Địa chỉ chi nhánh: Số A đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

(Văn bản uỷ quyền ngày 20/9/2024)

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Lê N1, sinh năm 1979;
  2. Bà Phan Thị Tuyết D1, sinh năm 1985;

Cùng địa chỉ: Số A Đường T, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

(Ông P có mặt, những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng B do ông Võ Bá T1 sau đó là ông Lê Hữu P đại diện theo uỷ quyền trình bày như sau:

Ngày 06/3/2024, Ngân hàng B-Chi nhánh L đã ký kết với vợ chồng ông Nguyễn Lê N1 và bà Phan Thị Tuyết D1 Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/15316120/HĐTD với các nội dung: Hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 9.000.000.000 đồng. Trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn, dư nợ bảo lãnh của Khách hàng tại Ngân hàng được chuyển tiếp từ các Hợp đồng tín dụng ngắn hạn cụ thể, hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2023/15316120/HĐHM ngày 16/01/2023 sang hợp đồng này. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa gạo; Hạn mức tín dụng nêu trên là hạn mức cho vay và bảo lãnh cộng gộp, không phân định hạn mức cho vay và hạn mức bảo lãnh riêng; thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng này.

Theo đó, Ngân hàng B-Chi nhánh L đã giải ngân cho bị đơn số tiền tổng cộng là 9.000.000.000 đồng theo các Hợp đồng hạn mức tín dụng cụ thể, gồm:

Ngày 22/11/2023, bị đơn được Ngân hàng B-Chi nhánh L giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng cụ thể số 01.07/2023/15316120/HĐTD ngày 22/11/2023 quy định thời hạn vay 08 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất vay trong hạn cố định là 8,9%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lịch trả nợ gốc là ngày 22/7/2024, lãi suất được trả định kỳ vào ngày 05 hàng tháng, kỳ đầu tiên là ngày 05/12/2023 thu từ tài khoản số 6801098421; không thu phí trả nợ trước hạn; các nội dung khác được thực hiện theo quy định tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2023/15316120/HĐTDHM ký ngày 16/01/2023.

Ngày 06/3/2024, bị đơn được Ngân hàng B-Chi nhánh L giải ngân số tiền 6.000.000.000 đồng theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể số 01/01/2024/15316120/HĐTD và số 02.01/2024/15316120/HĐTD quy định thời hạn vay 08 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất vay trong hạn cố định là 8,1%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lịch trả nợ gốc là 06/11/2024; lãi suất được trả định kỳ hàng quý vào ngày 05, kỳ đầu tiên là ngày 05/6/2024.

Để bảo đảm cho khoản nợ vay, vợ chồng ông N1 bà D1 đã thế chấp cho Ngân hàng B các tài sản toạ lạc Ấp B, xã M, huyện T tỉnh Long An gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 29, tờ bản đồ số 4, diện tích 624,4m² (trong đó diện tích lộ giới là 81,3m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354086, số vào sổ cấp GCN: CH05226 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 2299, tờ bản đồ số 4, diện tích 607,5m² (trong đó diện tích là giới là 77,8m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354087, số vào sổ cấp GCN: CH05225 do Ủy ban nhân dân huyện huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.

Việc thế chấp các tài sản trên được lập thành Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/5802603/HĐBĐ ngày 27/10/2021 có công chứng tại Văn phòng C đồng thời được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Long An vào ngày 28/10/2021; sau đó sửa đổi bổ sung tại Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2023/5802603/SĐBS ngày 16/01/2023, Văn bản sửa đổi bổ sung số 01/2024/580263/SĐBS ngày 12/01/2024 được ký kết giữa Ngân hàng B- Chi nhánh L và bà Phan Thị Tuyết D1, ông Nguyễn Lê N1.

Ngoài ra, trong hợp đồng thế chấp có thoả thuận tất cả các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do Bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản đảm bảo.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông N1 bà D1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng B đã chuyển toàn bộ dư nợ sang quá hạn kể từ ngày 05/4/2024. Ngân hàng B-Chi nhánh L đã nhiều lần thông báo yêu cầu ông N1 và bà D1 trả nợ nhưng đến nay cả hai vẫn không hợp tác, vi phạm các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng ký kết với Ngân hàng B.

Tính đến ngày 16/5/2024, tổng dư nợ của ông Nguyễn Lê N1 và bà Phan Thị Tuyết D1 theo các Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng B đến hết ngày 16/5/2024 là: 9.148.076.807 đồng, trong đó: nợ gốc là 9.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 148.076.807 đồng, lãi quá hạn: 0 đồng.

Nay Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông N1 bà D1 liên đới trả số nợ gốc và lãi tạm tính là: 9.148.076.807 đồng. Buộc ông N1 bà D1 phải thanh toán nợ lãi tiếp tục phát sinh tính theo lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng B cho đến khi thanh toán xong nợ vay. Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Sau khi phát mãi xong tài sản thế chấp mà không thu hồi đủ nợ, bà D1 ông N1 phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ nợ còn lại cho B.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn tại nơi cư trú của bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn cố tình vắng mặt cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Nguyên đơn có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà,

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, trình bày không còn tài liệu, chứng cứ gì khác cần cung cấp cho Toà án, không yêu cầu Toà án thu thập tài liệu, chứng cứ.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông N1 bà D1 đã trả lãi được tổng cộng 76.298.536 đồng; ngoài ra không thanh toán thêm khoản tiền nào khác. Tính đến ngày xét xử, ông N1 bà D1 còn nợ gốc là 9.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 354.805.572 đồng, lãi quá hạn là 17.095.910 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 9.371.901.482 đồng.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ do Ngân hàng B cung cấp gồm các bản sao gồm hợp đồng tín dụng hạn mức, hợp đồng tín dụng cụ thể, hợp đồng thế chấp, văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản có chữ ký của ông N1 bà D1 đã được công chứng và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đăng ký giao dịch bảo đảm xác định ông N1 bà D1 có vay và còn nợ của Ngân hàng B số tiền theo như Ngân hàng khởi kiện. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B là có căn cứ chấp nhận theo Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông N1 bà D1 liên đới trả cho Ngân hàng B số tiền còn nợ tính đến ngày 24/9/2024 là 9.371.901.482 đồng, trong đó nợ gốc là 9.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 354.805.572 đồng, lãi quá hạn của hợp đồng giải ngân ngày 22/11/2023 là 17.095.910 đồng.

Ông N1 bà D1 còn tiếp tục chịu lãi chậm trả từ ngày 25/9/2024 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp đã ký để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng. Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Ngân hàng B có đơn khởi kiện tranh chấp đối với ông Nguyễn Lê N1 bà Phan Thị Tuyết D1, địa chỉ cư trú tại Phường D, thành phố T, tỉnh Long An về yêu cầu trả số nợ còn thiếu trong hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào các điều: 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về xét xử vắng mặt các đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Lê N1 bà Phạm Thị Tuyết D2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà D2 ông N1 vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

[3.1] Giữa ông Nguyễn Lê N1 bà Phan Thị Tuyết D1 và Ngân hàng B - Chi nhánh L có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/15316120/HĐTD ngày 06/3/2024 với các nội dung: Hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 9.000.000.000 đồng. Trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn, dư nợ bảo lãnh của Khách hàng tại Ngân hàng được chuyển tiếp từ các Hợp đồng tín dụng ngắn hạn cụ thể, hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2023/15316120/HĐHM ngày 16/01/2023 sang hợp đồng này. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa gạo; Hạn mức tín dụng nêu trên là hạn mức cho vay và bảo lãnh cộng gộp, không phân định hạn mức cho vay và hạn mức bảo lãnh riêng; thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng này. Theo đó, Ngân hàng B-Chi nhánh L đã giải ngân cho bị đơn số tiền tổng cộng là 9.000.000.000 đồng theo các Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/15316120/HĐTD ngày 06/3/2024 và Hợp đồng tín dụng cụ thể số 01.07/2023/15316120/HĐTD ngày 22/11/2023, số 01/01/2024/15316120/HĐTD và số 02.01/2024/15316120/HĐTD cùng ngày 06/3/2024. Trong thời gian cho vay, Ngân hàng có điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với bị đơn như sau: Đối với tài khoản vay số [...] từ ngày 22/11/2023 giảm từ 8,9% còn 6,4% từ ngày 16/5/2024, tài khoản vay số [...] và 405001062822 từ ngày 06/3/2024 giảm từ 8,1% còn 6,4% từ ngày 16/5/2024.

[3.2] Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn chỉ trả được cho nguyên đơn số tiền nợ lãi là 76.298.536 đồng, sau đó bị đơn không thực hiện trả gốc và lãi đúng hạn là đã vi phạm nghĩa vụ theo điểm a khoản 1 Điều 10 của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/15316120/HĐTD ngày 06/3/2024 quy định về sự kiện vi phạm như sau:

Khách hàng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí, bất kỳ khoản cấp tín dụng nào các cam đoan và bảo lãnh, các cam kết, các điều kiện tiên quyết trước khi giải ngân và các nghĩa vụ khác phát sinh theo quy định tại Hợp đồng này, Hợp đồng tín dụng hạn mức, Hợp đồng tín dụng cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể cũng như các văn bản, thoả thuận ký kết với Ngân hàng, vi phạm quy chế cho vay...”

Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã thoả thuận trong Hợp đồng giữa các bên đã làm ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng được pháp luật bảo vệ.

[3.3] Số tiền nợ gốc ông N1 bà D1 còn nợ của Ngân hàng là 9.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 354.805.572 đồng, lãi quá hạn đến ngày 24/9/2024 là 17.095.910 đồng; tổng cộng tính đến ngày xét xử, ông N1 bà D1 còn thiếu của Ngân hàng B số tiền là 9.371.901.482 đồng.

[3.4] Do đó, Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Lê N1 bà Phan Thị Tuyết D1 liên đới trả số nợ đã vay và còn thiếu là phù hợp quy định tại Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ vay:

[4.1] Để bảo đảm cho khoản nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, vợ chồng ông N1 bà D1 có ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/5802603/HĐBĐ ngày 27/10/2021 có công chứng tại Văn phòng C đồng thời được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Long An vào ngày 28/10/2021; sau đó sửa đổi bổ sung tại Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2023/5802603/SĐBS ngày 16/01/2023, Văn bản sửa đổi bổ sung số 01/2024/580263/SĐBS ngày 12/01/2024 đối với các quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác tại Ấp B, xã M, huyện T tỉnh Long An gồm:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 29, tờ bản đồ số 4, diện tích 624,4m² (trong đó diện tích lộ giới là 81,3m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354086, số vào sổ cấp GCN: CH05226 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 2299, tờ bản đồ số 4, diện tích 607,5m² (trong đó diện tích là giới là 77,8m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354087, số vào sổ cấp GCN: CH05225 do Ủy ban nhân dân huyện huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.

[4.2] Việc thế chấp bất động sản có ký kết hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 tại nơi có bất động sản là đúng quy định pháp luật. Do đó, Ngân hàng B yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc thu hồi nợ của Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 292, 293, 298, 323 và Điều 299 Bộ luật Dân sự đồng thời bị đơn không có ý kiến phản đối nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp tổng cộng là 5.000.000 đồng; nguyên đơn Ngân hàng B đã tạm ứng và chi phí xong; bị đơn ông N1 bà D1 có nghĩa vụ chịu và phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.

[7] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 156, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470, 292, 293, 298, 323 và Điều 299 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Nguyễn Lê N1 và bà Phan Thị Tuyết D1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng B số nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/15316120/HĐTD ngày 06/3/2024 và Hợp đồng tín dụng cụ thể số 01.07/2023/15316120/HĐTD ngày 22/11/2023, số 01/01/2024/15316120/HĐTD và số 02.01/2024/15316120/HĐTD cùng ngày 06/3/2024 tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 9.371.901.482 đồng, trong đó nợ gốc là 9.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 354.805.572 đồng, lãi quá hạn là 17.095.910 đồng.
  2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/5802603/HĐBĐ ngày 27/10/2021 giữa ông Nguyễn Lê N1 bà Phan Thị Tuyết D1 với Ngân hàng B được công chứng tại Văn phòng C đồng thời được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Long An vào ngày 28/10/2021 và Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/2023/5802603/SĐBS ngày 16/01/2023, Văn bản sửa đổi bổ sung số 01/2024/580263/SĐBS ngày 12/01/2024 để đảm bảo việc thi hành án cho Ngân hàng B, cụ thể: Nếu bị đơn ông Nguyễn Lê N1 và bà Phan Thị Tuyết D1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án cho Ngân hàng B bao gồm:
    • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 29, tờ bản đồ số 4, diện tích 624,4m² (trong đó diện tích lộ giới là 81,3m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354086, số vào sổ cấp GCN: CH05226 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.
    • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 2299, tờ bản đồ số 4, diện tích 607,5m² (trong đó diện tích là giới là 77,8m²), loại đất ONT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 354087, số vào sổ cấp GCN: CH05225 do Ủy ban nhân dân huyện huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 08/9/2021, được chỉnh lý cho ông Nguyễn Lê N1 đứng tên vào ngày 22/9/2021.

    Tất cả tài sản tọa lạc Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

    Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn không đủ trả nợ thì ông N1 bà D1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số nợ còn lại cho Ngân hàng B cho đến khi trả hết số nợ.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bị đơn ông Nguyễn Lê N1 và bà Phan Thị Tuyết D1 phải liên đới chịu 117.371.901 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.874.038 đồng theo biên lai thu số 0001889 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
  5. Về chi phí tố tụng: Tổng cộng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng; bị đơn ông Nguyễn Lê N1 bà Phan Thị Tuyết D1 phải liên đới chịu toàn bộ; số tiền này Ngân hàng thương mại cổ phần B đã tạm ứng và chi phí xong, bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng.
  6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận: (86)

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tp. Tân An;
  • - Chi cục THADS tp. Tân An;
  • - Các đương sự (03);
  • - Lưu: HS vụ án, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Toàn Vẹn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 126/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông N1 bà D1 liên đới trả số nợ gốc và lãi tạm tính là: 9.148.076.807 đồng. Buộc ông N1 bà D1 phải thanh toán nợ lãi tiếp tục phát sinh tính theo lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng B cho đến khi thanh toán xong nợ vay. Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Sau khi phát mãi xong tài sản thế chấp mà không thu hồi đủ nợ, bà D1 ông N1 phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ nợ còn lại cho B.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger