|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN Bản án số: 126/2023/DS-ST Ngày: 15 – 8 – 2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Kiều Loan;
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2023/QĐXX-DS ngày 26/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2023/QĐST-DS ngày 20/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S -A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Thiên Đ; chức vụ: Cán bộ phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 19/6/2023), có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/5/2018, ông Nguyễn Minh T có ký Hợp đồng tín dụng số 0316/HDTD-VIB629/18 với Ngân hàng TMCP Q để vay số tiền 421.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng tính từ ngày 19/5/2018 đến ngày 18/5/2026; mục đích cấp tín dụng: Thanh toán mua 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA VIOS, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8.99%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay; hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại theo quy định của Ngân hàng V1 tại thời điểm điều chỉnh và sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.09%/năm; trả gốc hàng tháng 4.386.000 đồng và lãi vào ngày 16 hàng tháng, tháng cuối cùng đóng hết số tiền còn lại; kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 16/6/2018; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để bảo đảm nghĩa vụ vay vốn, ông T đã thế chấp quyền sở hữu xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, số khung RL4B29F3 1J5039596, số má y 2NR X314689, biển số 62A-098.56, loại xe ô tô con, màu sơn trắng, sản xuất năm 2018; giấy tờ sở hữu là bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cấp cho ông Nguyễn Minh T; bản sao hợp đồng mua bán số TTSAMCO 18/1080/HDMB/VK ngày 23/4/2018. Hiện Ngân hàng đang lưu giữ bản chính giấy đăng ký xe của ông T do Phòng C Công an tỉnh L cấp năm 2018. Việc thế chấp này được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0316/HĐTC-VIB629/18 ngà y 17/5/2018.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 18/5/2018 đến nay, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 57.597.679 đồng. Trong đó, thanh toán nợ gốc là 36.207.877 đồng, thanh toán nợ lãi là 21.389.802 đồng. Kể từ ngà y 16/01/2019, ông T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết nên đến ngày 16/01/2019, toàn bộ khoản vay của ông T chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 với mức lãi suất bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng đã tiến hành thu hồi toàn bộ số nợ bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/8/2023 là 721.136.848 đồng, trong đó: Nợ gốc là 384.792.123 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.232.338 đồng, nợ lãi quá hạn là 333.112.387 đồng. Kể từ ngày 16/8/2023, ông T còn phải chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết số nợ vay cho Ngân hàng.
Ngân hàng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ liên quan đến hợp đồng tín dụng, cam kết không yêu cầu giải quyết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0316/HĐTC-VIB629/18 ngày 17/5/2018. Trường hợp sau này phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp, Ngân hàng sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Minh T tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng ông T vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần Q khởi kiện ông Nguyễn Minh T phải có trách nhiệm thanh toán khoản vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký, nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, ông T có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án; đã được triệp tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/8/2023 là 721.136.848 đồng, trong đó: Nợ gốc là 384.792.123 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.232.338 đồng, nợ lãi quá hạn là 333.112.387 đồng. Kể từ ngày 16/8/2023, ông T còn phải chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết số nợ vay cho Ngân hàng.
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền nợ gốc:
Xét Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với ông Nguyễn Minh T: Về bản chất, đây là hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định của Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch. Theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018, Ngân hàng Q có cho ông T vay số tiền 421.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 18/5/2018 đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 57.597.679 đồng. Trong đó, thanh toán nợ gốc là 36.207.877 đồng, thanh toán nợ lãi là 21.389.802 đồng.
Từ ngày 16/01/2019, ông T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 và điều khoản và điều kiện cấp tín dụng (đính kèm hợp đồng tín dụng). Tính đến ngày 15/8/2023, ông T chưa thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng với số tiền là 384.792.123 đồng.
Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Bị đơn đã vi phạm hợp đồng vay, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, buộc ông Nguyễn Minh T phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 là 384.792.123 đồng.
[3.2] Về yêu cầu trả tiền lãi:
Lãi suất vay các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 như sau: Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 8.99%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay; hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại theo quy định của Ngân hàng V1 tại thời điểm điều chỉnh và sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.09%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Từ ngày 16/01/2019, ông T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả lãi theo cam kết theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018. Do đó, nợ lãi trong hạn tính từ ngày 18/5/2018 đến ngày 16/01/2019 là 3.232.338 đồng, Ngân hàng yêu cầu ông T phải trả cho ngân hàng tiền nợ lãi trong hạn là 3.232.338 đồng, là có căn cứ nên được chấp nhận.
Do ông T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết nên đến ngày 16/01/2019, toàn bộ khoản vay của ông T chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 là 150% lãi suất trong hạn với số tiền là 333.112.387 đồng, Ngân hàng yêu cầu ông T phải trả cho ngân hàng tiền nợ lãi quá hạn số tiền là 333.112.387 đồng, là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3.3] Về khoản tiền lãi sau ngày tòa xét xử sơ thẩm: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016, yêu cầu của nguyên đơn áp dụng tính lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng sau ngày xét xử sơ thẩm là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Minh T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 15/8/2023 là 721.136.848 đồng, trong đó: Nợ gốc là 384.792.123 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.232.338 đồng, nợ lãi quá hạn là 333.112.387 đồng. Kể từ ngày 16/8/2023, ông T còn phải chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết số nợ vay cho Ngân hàng.
[3.4] Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0316/HĐTC-VIB629/18 ngày 17/5/2018, Ngân hàng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0316/HĐTC-VIB629/18 ngày 17/5/2018. Trường hợp sau này các bên phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp được quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010; Điều 11 của Quy chế phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng N; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Minh T.
Buộc ông Nguyễn Minh T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền là 721.136.848 đồng. Trong đó: Nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 là 384.792.123 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.232.338 đồng, nợ lãi quá hạn là 333.112.387 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Minh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng mua ô tô tiêu dùng số 0316/HĐTD-VIB629/18 ngày 17/5/2018 cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
Về án phí: Buộc ông Nguyễn Minh T phải chịu 32.845.474 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q 12.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0008244 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Quốc |
Bản án số 126/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 126/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Minh T
