Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 126/2020/HNGĐ-ST

Ngày: 25/8/2020

V/v: "Ly hôn".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Kim Hoa
  2. Ông Nguyễn Văn Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nông Thị T - sinh năm 1966;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B cũ (nay là tổ N), phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; "Có mặt tại phiên tòa".

Bị đơn: Lâm Ngọc T - sinh năm 1962;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B cũ (nay là tổ H), phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; "Vắng mặt không có lý do".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 19 tháng 02 năm 2020; Bản tự khai ngày 07 tháng 5 năm 2020 và tại phiên tòa nguyên đơn Nông Thị T trình bày: Bà và ông Lâm Ngọc T kết hôn năm 1988, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tháng 3 năm 1988 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Thời điểm kết hôn bà T công tác tại Ngân hàng nông nghiệp Cao Bằng. Đến năm 1992 xin nghỉ về nhà cùng ông T kinh doanh tự do tại phường H, thành phố C. Hiện nay bà kinh doanh quán cà phê tại phường S, thành phố Cao Bằng.

- Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bắt đầu từ năm 1993. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T chơi bời, cờ bạc, hay uống rượu rồi quấy nhiễu gia đình, không có trách nhiệm với gia đình, khi kinh tế gia đình khó khăn không giúp gánh vác, khi có việc cần bàn bạc với ông T không đồng tình, không nhất trí, bà T tự gánh vác giải quyết, bên cạnh đó ông T còn có tính gia trưởng. Ngoài ra, còn do ông T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Quá trình mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát nhiều lần nhưng không gây thương tích, khi ông T gây nhiễu gia đình, chửi mắng, đánh bà và nhân viên quán cà phê của bà có sự can thiệp, chứng kiến của Công an phường S, thành phố Cao Bằng. Gia đình, anh em có góp ý nhưng không được, ông T không thay đổi. Đến năm 2017 vợ chồng bà sống ly thân. Bà đã gửi đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng vào năm 2000 và năm 2018. Mâu thuẫn vợ chồng đã được Tòa án hòa giải quay về đoàn tụ. Tuy nhiên, sau đó việc khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng không có kết quả, vợ chồng bà vẫn không cải thiện được tình cảm, mặc dù bà đã cố gắng hết sức và cho ông T nhiều cơ hội. Mâu thuẫn giữa bà và ông T đã kéo dài. Đến nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Lâm Ngọc H (sinh ngày 25/9/1998; giới tính: Nam). Hiện nay con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/5/2020, bị đơn ông Lâm Ngọc T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông T không nhất trí ly hôn bà Nông Thị T. Ngoài ra, ông T không cung cấp thêm thông tin nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nội dung vụ án là ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Bị đơn Lâm Ngọc T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật. Mặc dù bị đơn Lâm Ngọc T đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị đơn không có yêu cầu phản tố trong vụ án này, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Lâm Ngọc T.

[2]. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị T và ông Lâm Ngọc T kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu và tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Cao Bằng vào tháng 3 năm 1988. Xét hôn nhân giữa bà T và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

- Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn bà T, ông T chung sống hòa thuận hạnh phúc được 05 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn phát sinh từ năm 1993. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do ông T chơi bời, cờ bạc, rượu chè, không có trách nhiệm với gia đình, ông T có tính gia trưởng. Ngoài ra, còn do ông T ngoại tình. Quá trình mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát nhiều lần nhưng không gây thương tích. Gia đình, anh em có góp ý nhưng ông T không thay đổi. Từ năm 2017 cho đến nay bà T ông T đã sống ly thân. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cũng đã được Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng hòa giải nhiều lần. Tuy nhiên, cho đến nay vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nông Thị T và ông Lâm Ngọc T.
  2. Về nuôi con chung: Con chung là Lâm Ngọc H - sinh ngày 25/9/1998 (giới tính: nam) đã thành niên và không thuộc trường hợp không có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nông Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn để sung quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0000656 ngày 24 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận bà Nông Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Nông Thị T (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lâm Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh CB;
  • - VKSND TPCB;
  • - THADS TPCB;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Lê Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2020/HNGĐ-ST ngày 25/08/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về ly hôn

  • Số bản án: 126/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án xin ly hôn giữa chị Nông Thị T và anh Lâm Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger