|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1259/2023/DSPT
Ngày: 26/12/2023
V/v tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Vân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Muôn
Ông Phan Báu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5169/2023/QĐ-PT ngày 07/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15989/2023/QĐ-PT ngày 30/11/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ban quản trị Chung cư Lê Thị Riêng
Địa chỉ: 005 Lô G chung cư Lê Thị Riêng, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Bạch V, sinh năm 1958
(Theo Quyết định số 106/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, ban hành ngày 18/5/2022)
- Bị đơn: Công ty cổ phần Đ.
Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Bà Ngô Thị Châu H, sinh năm 1975; (Theo văn bản ủy quyền tham gia tố tụng số 08/2003 lập ngày 20/02/2023 của công ty cổ phần Đ)
Ông Lê Văn T, sinh năm 1953; địa chỉ: H đường số C, chung cư B, Lô C, sảnh phụ, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Hợp đồng ủy quyền số 0005521 ngày 09/8/2023 tại Văn phòng C).
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/01/2023 và tại các bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bạch V trình bày như sau:
Ngày 20/10/2016, Ban quản trị Chung cư Lê Thị R và Công ty Cổ Phần Đ (viết tắt công ty Đ) có ký kết Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 (viết tắt Hợp đồng số 10) có nội dung cơ bản sau: Ban quản trị Chung cư Lê Thị R cho Công ty Đ, bao gồm: 02 bãi giữ xe có 2 vị trí (tầng trệt lô D: 194 m² và nhà xe phía sau, đối diện đầu hồi Lô H: 270 m²).
+ Thời hạn hợp đồng: 06 năm, kể từ ngày 01/11/2016 đến 30/10/2022.
+ Bên thuê (công ty Đ) có trách nhiệm xây dựng nhà xe phía sau thêm 01 tầng, bên thuê bàn giao hạ tầng nhà xe cho bên cho thuê là Ban quản trị khi hợp đồng kết thúc và không đòi bồi hoàn một khoản nào.
+ Giá hợp đồng: 25.600.000 đồng/tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty Đ vi phạm về giá giữ xe, vi phạm thời hạn thanh toán tiền thuê mặt bằng và người dân chung cư liên tục phản ánh về thái độ giữ xe của công ty dẫn đến các bên phải họp và lập nhiều biên bản để giải quyết các vấn đề trên. Tuy nhiên, sự việc vẫn không cải thiện nên B quản trị đã có thông báo chấm dứt hợp đồng trước hạn nhưng phía công ty Đ không có thiện chí giải quyết và không đồng ý bàn giao mặt bằng. Hiện nay, hợp đồng ký giữa hai bên đã hết nhưng công ty Đ vẫn cố tình chiếm dụng mặt bằng và tiếp tục nhận gửi, giữ xe.
Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây:
- - Chấm dứt Hợp đồng thuê mặt bằng đối với hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 do Ban quản trị Chung cư Lê Thị R và Công ty Đ ký kết ngày 20/10/2016, có thời hạn từ 01/11/2016 đến 30/10/2022, hết hạn hợp đồng.
- - Bên bị đơn phải giao trả mặt bằng 2 bãi giữ xe tại Nhà C, có vị trí tại - tầng trệt lô D, có tổng diện tích là 194 m². Nhà xe phía sau, đối diện đầu hồi lô H, có tổng diện tích là 270 m².
- - Bên nguyên đơn sau khi nhận lại đủ mặt bằng giữ xe sẽ trả lại số tiền bảo lãnh thực hiện Hợp đồng là 60.000.000 đồng và số tiền ký quỹ rủi ro là 200.000.000 đồng sau khi đã thống nhất trừ đi các chi phí phát sinh hợp lý.
- - Bên bị đơn trả tiền thuê mặt bằng hàng tháng theo giá trúng thầu tính từ ngày 31/10/2022, mỗi tháng 33.500.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xin thay đổi lại nội dung khởi kiện này chỉ tính tiền thuê mặt bằng theo giá hợp đồng hai bên giao kết là 25.600.000 đồng tính đến ngày Công ty Đ bàn giao mặt bằng lại cho Ban quản trị.
- - Bên bị đơn trả số tiền thuê còn thiếu của tháng 7/2019 là 5.198.000 đồng.
Bị đơn công ty Đ có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không chính xác nên không đồng ý. Việc nguyên đơn cho rằng hợp đồng chấm dứt thì chưa thỏa thuận trước khi hết hạn hợp đồng 30 ngày. Căn cứ theo Hợp đồng số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 tại điều 4 của Hợp đồng thì không sao y các loại giấy tờ có liên quan đến bãi xe theo yêu cầu của cơ quan cấp phép. Do không xây dựng lên tầng nên công ty Đ đã nhắc nhiều lần và yêu cầu giảm giá thuê nhưng Ban quản trị không đồng ý vì hợp đồng đã giao kết nếu không thực hiện thì hủy bỏ hợp đồng. Bị đơn không đồng ý giao trả mặt bằng 02 nhà xe cho B quản trị vì thực hiện hợp đồng này công ty Đ không có vi phạm bất kỳ điều khoản nào. Trong hợp đồng không có thỏa thuận trừ chi phí phát sinh. Căn cứ theo Điều 3 tại khoản 3.2 tiền bảo lãnh thực hiện Hợp Đồng và tiền ký quỹ bên A sẽ trả lại cho bên B sau khi thanh lý hợp đồng. Hợp đồng chưa thanh lý bên B không giao lại 02 nhà xe cho bên A, không có chi phí phát sinh. Bên bị đơn không đồng ý trả tiền thuê mặt bằng hàng tháng theo giá trúng thầu theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra bên bị đơn có yêu cầu phản tố như sau:
| STT | Đơn giá trung bình thu phí giữ xe của cư dân 60 + 80 + 120 = 260 đồng : 3 = 86.700 đồng/01 xe x 200 xe | Số lượng | Số tiền một tháng | Thành tiền |
|---|---|---|---|---|
| 01 | Không xây dựng lên tầng nhà xe phía sau Lô D do Ban quản trị chung cư Lê Thị Riêng không phải là chủ sở hữu nên không xin được giấy phép xây dựng mỗi tháng nhà xe bị mất 200 xe, tạm tính từ ngày 01/11/2016 đến 30/06/2023 là 80 tháng. | 80 tháng | 17.340.000 đồng | 1.387.200.000 đồng |
| 02 | Tạm tính lãi 60 tháng theo khung lãi vay quá hạng của Ngân hàng thương mại 1% một tháng. | 60 tháng | 173.400 đồng | 10.404.000 đồng |
| 03 | Tháng 01/2022 nhà nước lấy mất thêm ngang 14m dài 1,2m m ở đường mỗi tháng nhà xe mất 20 xe x 86.700 đồng. | 18 tháng | 1.734.000 đồng | 31.200.000 đồng |
| 04 | Năm 2022 Lãi suất tăng 1,5% tháng theo khung lãi vay của Ngân Hàng Thương Mại 18 x 26.000 đồng | 18 tháng | 26.000 đồng | 468.000 đồng |
| 05 | Từ tháng 01/11/2022 đến 30/6/2023 Ban quản trị CC Lê Thị Riêng đã mở ba điểm giữ xe gây thiệt hại cho Công ty 200 xe x 86.666 đồng = 17.333.200 đồng/tháng. | 08 tháng | 17.340.000 đồng | 138.665.000 đồng |
| 06 | Lãi 08 tháng theo khung lãi vay của Ngân hàng thương mại 1,5%/tháng | 08 tháng | 260.000 đồng | 2.080.000 đồng |
| 07 | Lãi 18 tháng theo khung lãi vay của Ngân Hàng Thương Mại 1,5% một tháng từ ngày 01/01/2022 đến 30/06/2023 | 18 tháng | 260.000 đồng | 4.680.000 đồng |
| Tổng cộng | 1.574.697.000 đồng | |||
Tính từ ngày công ty Đ nộp án phí phản tố. Công ty tạm thời sẽ không nộp tiền nhà xe vì số tiền trên đã được chi cho việc tạm ứng để thanh toán án phí phản tố.
Nguyên đơn có bà V trình bày về yêu cầu phản tố của bị đơn: Theo nội dung hợp đồng hai bên đã giao kết thì bên thuê có trách nhiệm tự đầu tư kinh phí xây tầng 1 nhà để xe phía sau nên thời hạn hợp đồng được kéo dài đến 6 năm (thay vì 3 năm theo nhiệm kỳ hoạt động của Ban quản trị). Thực tế sau khi trúng thầu bên thuê không thực hiện việc đầu tư vốn (trên 700 triệu đồng) để xây dựng tầng 1 nhà để xe phía sau. Hơn nữa thời gian đầu thực hiện hợp đồng bên thuê đã có vi phạm về giá dịch vụ. Các điều khoản trong hợp đồng nên dẫn đến việc ngay từ tháng 03/2017 bên cho thuê đã phát hành lần lượt các văn bản đơn phương chấm dứt hợp đồng, có điều kiện hỗ trợ cho bên thuê nhưng bên thuê không hợp tác, không giao trả mặt bằng. Thực tế trong thời hạn hợp đồng phía bên thuê hoạt động kinh doanh đã thực hiện nghĩa vụ tài chính, tài khoản của cá nhân (bà Ngô Thị Châu H) hàng tháng nộp tiền thuê mặt bằng 25.600.000 đồng/tháng vào tài khoản của Ban quản trị Chung cư Lê Thị R, cũng không có văn bản nào yêu cầu bên cho thuê bồi thường gì về số lượng xe gửi giữ. Ban quản trị đã thực hiện đúng tinh thần và phạm vi nội dung của Điều 2 hợp đồng số 10 nêu trên, thể hiện các việc sau:
- + Ngày 02/7/2022 đã tiếp xúc với đại diện bên thuê (bà Ngô Thị Châu H1) để nắm bắt tình hình nguyện vọng đề xuất của bên thuê chuẩn bị hết hạn hợp đồng 30/10/2022 và chấn chỉnh thực hiện điều khoản hợp đồng về niêm yết bảng giá theo quy định, nhưng phía bên thuê không thiện chí hợp tác thực hiện (theo biên bản cuộc họp).
- + Tổ chức khảo sát ý kiến cư dân về tái ký hợp đồng với nhà thầu Đại Kim P, có số đông cư dân không đồng thuận (kèm theo kết quả khảo sát).
- + Tổ chức cuộc họp Ban quản trị mở rộng vào ngày 25/9/2022, có bên thuê dự họp (bà Ngô Thị Châu H) để thông tin nội dung không thể gia hạn hợp đồng, mời bên thuê ưu tiên tham gia dự thầu. Nhưng tại cuộc họp bà H đại diện bên công ty Đ tuyên bố sẽ đòi bồi thường hợp đồng là 576.000.000 đồng và không tham gia dự thầu.
- + Tiếp theo Ban quản trị chung cư Lê Thị R đã gửi các thông báo đến bên thuê, cụ thể: Thông Báo số 7 ngày 30/9/2022 &số 11 ngày 20/10/2022 & thông báo số 22 ngày 30/10/2022, để thông tin việc chuẩn bị kết thúc hợp đồng, mời dự thầu, bàn giao mặt bằng. Đồng thời Ủy ban nhân dân Phường A cũng tổ chức 02 buổi họp hòa giải vào ngày 20/10/2022 và 17/11/2022. Nhưng phía bên thuê không hợp tác, không tham gia dự thầu, cũng không gửi đơn khởi kiện đòi bồi thường hợp đồng.
- + Sau khi bên thuê nhận thông báo trên của bên cho thuê, phía bên thuê có gửi lại 02 văn bản: số 001/10/2022 ngày 01/10/2022 và 002/10/2022 ngày 08/10/2022 về việc yêu cầu bên cho thuê bồi thường hợp đồng số tiền 1.067.500.000 đồng (một tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm ngàn đồng) bồi thường hợp đồng đủ xong mới thanh lý hợp đồng. Đồng thời bên thuê đã vịn vào lý do không có cơ sở này mà không bàn giao mặt bằng thuê đã hết thời hạn từ ngày 30/10/2022 và tiếp tục sử dụng các bãi giử xe Nhà chung cư để kinh doanh kéo dài nhiều tháng thu lợi nhuận cho đến nay, không có hợp đồng ký kết.
Việc Nhà nước làm đường Nguyễn Giản T1 từ tháng 1/2022, nhà xe phía sau bị mất diện tích 14 m ngang x 2 m dài = 28 m², tương đương chỗ để 20 chiếc xe/ngày. Hiện trạng nhà để xe giáp ranh đường Nguyễn Giản T1, phía ngòai bờ tường nhà để xe cách khoản 1m có bức tường phía trước, không mái che, diện tích này không liên quan đến diện tích bên trong nhà giữ xe; bản vẽ nhà giữ xe có chiều ngang 12 m x chiều dài 25m; Hồ sơ bồi thường thu hồi đất của Ban B2 (tính luôn phần diện tích bên ngoài nhà để xe); Căn cứ hợp đồng thi công vào ngày 14/02/2022 di dời bờ tường (20 mm), xây mới bờ tường (10 mm), phần diện tích mất đi theo chiều ngang của nhà xe (hiện có hình ảnh của nền gạch dời bờ tường nhà để xe): chiều ngang 12 m x chiều dài 15 mm = 1,8 m², tương đương chỗ để 1,5 chiếc xe/tháng tính thành tiền tương đương: 120.000 đồng x 8,5 tháng (từ 14/2/2022 đến 30/10/2022)= 1.020000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2023/DS-ST ngày 26/7/2023, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 156; Điều 351; Điều 422 và Điều 482 của Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.1] Chấm dứt Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 giữa Ban quản trị chung cư Lê Thị R và Công ty cổ phần Đ vào ngày 30/10/2022.
[1.2] Buộc Công ty cổ phần Đ bàn giao toàn bộ mặt bằng theo Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 tại Tầng trệt lô D, có tổng diện tích là 194 m2; Nhà xe phía sau, đối diện đầu hồi lô H, có tổng diện tích là 270 m2 Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.3] Buộc Công ty cổ phần Đ trả tiền thuê mặt bằng còn thiếu cho B quản trị chung cư Lê Thị R của tháng 7/2019 là 5.198.000 đồng và từ tháng 11/2022 tạm tính đến tháng 7/2023 là 157.020.455 đồng. Tổng cộng là 162.218.455 đồng. Tiền thuê được tiếp tục tính với giá thuê theo Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 cho đến khi Công ty cổ phần Đ bàn giao mặt bằng cho Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.4] Ghi nhận sự tự nguyện của Ban quản trị chung cư Lê Thị R hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Đ số tiền bảo lãnh thực hiện Hợp đồng là 60.000.000 đồng và số tiền ký quỹ rủi ro là 200.000.000 đồng.
[2] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần Đ buộc Ban quản trị chung cư Lê Thị R thanh toán số tiền 1.574.697.000 đồng gồm:
[2.1] Số tiền 1.387.200.000 đồng và tiền lãi 10.404.000 đồng do B quản trị không bàn giao giấy tờ và ủy quyền để bị đơn xây dựng lên tầng nhà xe phía sau.
[2.2] Số tiền 31.200.000 đồng và lãi suất 468.000 đồng do tháng 01/2022 nhà nước lấy mất đi thêm ngang 14m dài 1.2m mở đường.
[2.3] Bồi thường thiệt hại số tiền 138.665.000 đồng, tiền lãi 4.680.000 đồng do ban quản trị mở thêm ba điểm giữ xe dẫn đến lượng xe gửi tại bãi của bị đơn bị giảm sút và thiệt hại lợi nhuận.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/08/2023, Công ty cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Theo đó đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử trình tự phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện theo pháp luật của Ban quản trị chung cư Lê Thị R vẫn giữ nguyên yêu cầu theo Đơn khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến suốt quá trình phiên tòa phúc thẩm. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung: Xét thấy bản án sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng” và những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, nhận định và căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án và yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nhưng tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyển của bị đơn không đưa ra chứng cứ về việc Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày hai bên ký hợp đồng nhận thầu giữ xe và tại Điều 5 của Hợp đồng hai bên cam kết “...tranh chấp hợp đồng (nếu có) sẽ được khởi kiện đến Tòa án kinh tế cấp có thẩm quyền để giải quyết..”. Bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục dân sự là không đúng nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án. Căn cứ nội dung Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng” và việc hai bên thỏa thuận khi có tranh chấp sẽ do Tòa kinh tế các cấp giải quyết là không đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ (viết tắt là Công ty Đ) làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án :
Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày hai bên ký hợp đồng nhận thầu giữ xe và tại Điều 5 của Hợp đồng hai bên cam kết “...tranh chấp hợp đồng (nếu có) sẽ được khởi kiện đến Tòa án kinh tế cấp có thẩm quyền để giải quyết..”. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục dân sự là không đúng nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án. Căn cứ nội dung Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn công ty Đ có trụ sở tại 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về tư cách người tham gia tố tụng
[3.1] Căn cứ Điều 22 Thông tư 02/2016/TT-BXD quy định “...kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị của Ban quản lý nhà chung cư, Ủy ban nhân dân C1 có trách nhiệm kiểm tra và ban hành Quyết định công nhân Ban quản trị nhà chung cư”. Căn cứ Điều 1 của Quyết định về ủy quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân A1 phường thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận S 8448/QĐ-UB ngày 16/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A2 đối chiếu Quyết định số 106/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A ban hành ngày 18/5/2022 có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Bạch V là Trưởng Ban quản trị chung cư Lê Thị R nên bà V đủ tư cách tham gia tố tụng là đại diện theo pháp luật của nguyên đơn.
[3.2] Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Thành phố H cấp đăng ký thay đổi lần 5 ngày 28/7/2015 có cơ sở xác định ông Lê Hoàng Quốc B1 là đại diện theo pháp luật của Công ty Đ. Xét hợp đồng ủy quyền số 08/2003 lập ngày 20/02/2023 và Hợp đồng ủy quyền số 0005521 ngày 09/8/2023 thì bà Ngô Thị Châu H và ông Lê Văn T đủ tư cách đại diện theo ủy quyền của bị đơn tham gia tố tụng.
[3.3] Căn cứ Điều 24 Thông tư 02/2016/TT-BXD quy định về quy chế hoạt động và quy chế thu, chi tài chính của Ban quản trị nhà chung cư thì Ban quản trị chung cư có đủ tư cách pháp nhân theo khoản 1 Điều 104 Luật Nhà ở nên không cần thiết phải đưa Công ty TNHH MTV D; Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A hoặc các cơ quan khác vào tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[4] Về tính pháp lý của hợp đồng số 10/HĐGX/2016: Như phân tích tại phần [3] thì B quản trị Chung cư Lê Thị R (viết tắt là Chung cư Lê Thị R) và Công ty Đ đều đủ tư cách tham gia giao kết hợp đồng và căn cứ Điều 385 bộ luật dân sự quy định Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nên hợp đồng số 10 có giá trị pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên.
[5] Về nội dung: Với yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của bị đơn Công ty Đ. Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
- Về yêu cầu chấm dứt hợp đồng số 10/HĐGX/2016: Xét tại Điều 2 của hợp đồng quy định thời hạn của hợp đồng từ ngày 01/11/2016 đến ngày 30/10/2022. Quá trình giải quyết vụ án các bên đều xác nhận ngoài hợp đồng này các bên không giao kết phụ lục hợp đồng hay ký hợp đồng nào khác nên căn cứ vào thỏa thuận hợp đồng thì hợp đồng chấm dứt vào ngày 30/10/2022. Quá trình giải quyết vụ án Chung cư Lê Thị R có xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh việc muốn chấm dứt hợp đồng trước hạn do Công ty Đ vi phạm các điều khoản trong hợp đồng cụ thể Thông báo 0103-2017/TBBQT ngày 25/3/2017; Thông báo số 0104/TB-LTR ngày 03/4/2017 đều thể hiện nội dung thông báo phương chấm dứt hợp đồng trước hạn, có điều kiện hỗ trợ cho bên thuê nhưng bên thuê không hợp tác, không giao trả mặt bằng. Căn cứ khoản 2.3 Điều 2 của Hợp đồng số 10 có nêu trước khi hợp đồng hết thời hạn 30 ngày thì hai bên có thể thống nhất gia hạn nhưng trong vụ án này các bên chưa có biên bản làm việc về nội dung gia hạn cũng như theo thỏa thuận hai bên có thể thống nhất không phải là điều kiện bắt buộc. Mặt khác, Chung cư L có văn bản thông báo đề nghị bàn giao nhà xe cũng như các chứng từ thể hiện chuyển trả lại tiền mặt bằng cho Công ty Đ do hợp đồng hết hạn. Căn cứ quy định pháp luật hợp đồng phải là sự thỏa thuận các bên nên trong trường hợp này có thể thấy Chung cư Lê Thị R không tiếp tục giao kết hợp đồng. Do đó có cơ sở xem xét yêu cầu khởi kiện này của Chung cư Lê Thị R về chấm dứt hợp đồng số 10.
- Về buộc bàn giao mặt bằng 02 bãi giữ xe tại Chung cư L tại: Tầng T, có tổng diện tích là 194 m²; Nhà xe phía sau, đối diện đầu hồi lô H, có tổng diện tích là 270m²: Như phân tích tại phần [5.1] thì hợp đồng đã hết hạn. Dó đó quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng cũng đã chấm dứt theo khoản 1 Điều 422 Bộ luật dân sự. Căn cứ biên bản bàn giao mặt bằng năm 2017 cũng như lời khai của bị đơn có cơ sở xác định Công ty Đ vẫn đang sử dụng mặt bằng theo khoản 1 Điều 482 Bộ luật dân sự quy định. Do đó có cơ sở xem xét yêu cầu khởi kiện này của Chung cư Lê Thị R.
- Về yêu cầu bị đơn trả tiền thuê mặt bằng còn thiếu của tháng 7/2019 là 5.198.000 đồng: Căn cứ Thư mời số 794/TM-UBND ngày 02/7/2019 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A; Biên bản làm việc ngày 05/7/2019 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A có nội dung “Công ty Đ thực hiện nộp phạt theo Quyết định số 3429/QĐ-XPHC ngày 08/4/2019”, và “Công ty Đ đồng ý nộp phạt”. Ngày 07/10/2019, Chung cư Lê Thị R đã thông báo bằng văn bản cho Công ty Đ về việc thanh toán thiếu tiền hợp đồng giao nhận thầu giữ xe tháng 7/2019 với số tiền là 5.198.000 đồng. Theo biên bản đối chất ngày 20/6/2023, các bên cũng khẳng định số tiền là 5.198.000 đồng là khoản tiền phạt vi phạm hành chính và Công ty Đ đã trừ vào tiền thuê tháng 07/2019. Như vậy, có cơ sở xác định tiền thuê mặt bằng tháng 7/2019 Công ty Đ chưa thanh toán đủ cho Chung cư Lê Thị R nên có cơ sở xem xét yêu cầu này.
- Về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuê mặt bằng do chưa bàn giao mặt bằng cho Chung cư Lê Thị R: Xét tại phiên tòa đại diện Chung cư L có thay đổi yêu cầu chỉ tính giá thuê theo hợp đồng số 10 là 26.500.000 đồng/tháng, không yêu cầu tính giá thuê 33.500.000 đồng. Việc thay đổi yêu cầu không vượt quá phạm vi khởi kiện nên được xem xét giải quyết trong vụ án. Như phân tích tại phần nêu trên, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và tại phiên tòa bị đơn vẫn đang là người quản lý, sử dụng và vẫn đang kinh doanh giữ xe tại 02 mặt bằng này. Căn cứ khoản 4 Điều 482 Bộ luật dân sự quy định “Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê, trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thỏa thuận.”. Chung cư Lê Thị R khai nhận phía công ty Đ vẫn trả tiền thuê từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023 là 25.600.000 đồng/tháng. Đối với tháng 6 và tháng 7/2023 là không trả đủ số tiền thuê như hợp đồng vì Công ty Đ cho rằng Chung cư Lê Thị R có lỗi trong thực hiện hợp đồng nên công ty có yêu cầu phản tố và phải đóng tiền án phí phản tố do đó tiền đóng án phí này được trừ vào tiền thuê mặt bằng của Ban quản trị. Căn cứ vào mục 4.2.3 khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng số 10 nêu “Thanh toán tiền thuê mặt bằng đủ và đúng hạn theo phường thức đã thỏa thuận” nên việc bị đơn thanh toán tiền thuê không đủ là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Tại các phiếu ủy nhiệm chi ngày 23/11/2022; 06/12/2022; 30/12/2022; 20/02/2023 và 08/3/2023 cũng như lời khai bị đơn tại Tòa xác nhận Chung cư Lê Thị R đã hoàn trả lại toàn bộ số tiền thuê trên về cho công ty Đ. Riêng số tiền thuê tháng 4 đến tháng 7/2023 B quản trị vẫn để trong tài khoản chưa chuyển trả lại nhưng có công văn gửi đến Công ty Đ biết số tiền này sẽ do Tòa án quyết định trong vụ án này. Căn cứ khoản 3.1 Điều 3 của Hợp đồng số 10 thì giá thuê 25.600.000 đồng/tháng. Như phân tích thì Công ty Đ có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê do chưa bàn giao mặt bằng tạm tính đến tháng 7/2023 tổng cộng là 157.020.455 đồng.
Tiền thuê được tiếp tục tính cho đến khi bị đơn bàn giao mặt bằng cho B quản trị chung cư Lê Thị R.
- Xét đề nghị của nguyên đơn trả lại số tiền bảo lãnh thực hiện Hợp đồng là 60.000.000 đồng và số tiền ký quỹ rủi ro là 200.000.000 đồng sau khi đã thống nhất trừ đi các chi phí phát sinh hợp lý và bị đơn bàn giao mặt bằng. Căn cứ khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng quy định “Số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng và tiền ký quỹ Bên A sẽ trả lại cho Bên B sau khi thanh lý hợp đồng và sẽ bị trừ đi các khoản mà Bên B chưa thanh toán như tiền điện, nước, điện thoại, các khoản phạt...”. Tại phiên tòa các bên đều xác nhận không có khoản chi phí phát sinh nào như hợp đồng số 10 đã nêu nên B quản trị sẽ trả lại đủ số tiền trên khi bị đơn bàn giao mặt bằng. Xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
[5.2] Xét các yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Về yêu cầu trả số tiền 1.387.200.000 đồng và tiền lãi 10.404.000 đồng do B quản trị không bàn giao giấy tờ và ủy quyền để bị đơn xây dựng lên tầng nhà xe phía sau. Hội đồng xét xử phân tích như sau: Căn cứ khoản 1.3 Điều 1 hợp đồng quy định bên B cụ thể là công ty Đ có trách nhiệm xây dựng nhà xe phía sau thêm 01 tầng. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng Ban quản trị không bàn giao các giấy tờ pháp lý liên quan đến mặt bằng cũng như không ủy quyền để bên B đi xin giấy phép xây dựng nên việc xây dựng không thể thực hiện được dẫn đến thiệt hại về diện tích giữ xe của bị đơn. Tuy nhiên, tại chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện bà H đại diện bên bị đơn có nhận 02 bộ hồ sơ sao y xin giấy phép xây dựng vào ngày 24/12/2016 và phía bị đơn cho rằng 02 bộ hồ sơ chỉ có 2 văn bản không đủ điều kiện để xin giấy phép xây dựng. Bị đơn cũng thừa nhận có gửi văn bản đến Ban quản trị về vấn đề này và nhận được công văn trả lời từ Ban quản trị do Hợp đồng được giao kết nên các bên thực hiện đúng theo hợp đồng. Tại biên bản làm việc ngày 02/6/2022 bà H có nêu nội dung “xin tải ký lại hợp đồng vì hợp đồng cũ là nhà xe lên lầu nhưng đã mời địa trắc đến không xây dựng được”. Ngoài ra, từ khi nhận hồ sơ xin xây dựng từ ban quản trị cho đến nay bị đơn vẫn thực hiện trả số tiền thuê như hợp đồng đã giao kết. Do đó, việc không xây dựng lên tầng không phải lỗi của Ban quản trị cũng như thực tế công ty Đ vẫn giữ số lượng xe nhiều và giá thuê cao hơn so với hợp đồng thể hiện Biên bản họp chung cư và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/4/2023 đã nhận giữ xe vượt quá số lượng 760 xe, thu tiền giữ xe vượt mức quy định nên không có cơ sở xem xét yêu cầu phản tố này của bị đơn. Ngoài ra, hai bên thỏa thuận điều khoản việc xây dựng lên tầng nhà phía sau cũng vô hiệu vì B quản trị không phải là chủ sở hữu chung cư Lê Thị R nên không có quyền xin giấy phép xây dựng.
- Về yêu cầu số tiền 31.200.000 đồng và lãi suất 468.000 đồng do tháng 01/2022 nhà nước thu hồi đất ngang 14 m dài 1.2 m để mở đường. Căn cứ Quyết định số 7260/QĐ-UBND ngày 17/11/2021 của Ủy ban nhân dân Quận A2 có nội dung “Thu hồi 19,32 m² đất của Ban quản trị Chung cư L, thuộc thửa đất số 3 (một phần), tờ bản đồ số 4 tại Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do thu hồi đất: để thực hiện Dự án Nâng cấp đường Nguyễn Giản T1 (đoạn từ B đến T), Phường A, Quận A”. Căn cứ Quyết định số 7247/QĐ-UBND ngày 17/11/2021 của Ủy ban nhân dân Quận A2 về phê duyệt Phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư của người bị thu hồi đất tại địa chỉ giải tỏa số thửa số 3, tờ số 4 đường N, Phường A, Quận A do Ban quản trị Chung cư Lê Thị R sử dụng và Công văn số 91/BBT ngày 15/4/2022 của Ban B2 cho thấy, việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi, giải tỏa 19,32 m² đất của Ban quản trị Chung cư Lê Thị R là sự kiện bất khả kháng theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự. Mặc khác, tại phiên tòa sơ thẩm các bên đương sự đều khai nhận phần diện tích thực tế mà Công ty Đ sử dụng kinh doanh lớn hơn so với phần diện tích nêu trong hợp đồng số 10. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 351 bộ luật dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn là có cơ sở.
- Về yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 138.665.000 đồng, tiền lãi 4.680.000 đồng do B quản trị mở thêm ba điểm giữ xe dẫn đến lượng xe gửi tại bãi của bị đơn bị giảm sút và thiệt hại lợi nhuận. Hội đồng xét xử nhận thấy việc kinh doanh do các bên tự tiến hành theo đúng quy định pháp luật và cạnh tranh theo quy định. Do đó, việc ban quản trị có mở thêm các bãi giữ xe khác cũng là hoạt động được pháp luật cho phép. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh về thiệt hại kinh doanh từ việc Ban quản trị mở thêm các điểm giữ xe khác nên Tòa án cấp sơ thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.
Như vậy, Công ty Đ vi phạm giá giữ xe, vi phạm không trả tiền thuê đúng thời hạn và điều này bị đơn cũng thừa nhận. Hết thời hạn thuê theo hợp đồng và 2 bên không thỏa thuận lại thời gian thuê.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.
Xét kháng cáo của Công ty Đ yêu cầu Tòa án cấp thẩm hủy án sơ thẩm tuy nhiên tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Công ty Đ không đưa ra chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty Đ.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị đơn Công ty Đ, giữ nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí sơ thẩm xác định tại bản án sơ thẩm là đúng quy định
[7] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ đi 300.000 đồng số tiền tạm ứng kháng cáo bị đơn đã nộp.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 1 Điều 308 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 156, Điều 351, Điều 422 và Điều 482 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ. Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.1] Chấm dứt Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 giữa Ban quản trị chung cư Lê Thị R và Công ty cổ phần Đ vào ngày 30/10/2022.
[1.2] Buộc Công ty cổ phần Đ bàn giao toàn bộ mặt bằng theo Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 tại Tầng trệt lô D, có tổng diện tích là 194 m²; Nhà xe phía sau, đối diện đầu hồi lô H, có tổng diện tích là 270 m² Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.3] Buộc Công ty cổ phần Đ trả tiền thuê mặt bằng còn thiếu cho B quản trị chung cư Lê Thị R của tháng 7/2019 là 5.198.000 đồng và từ tháng 11/2022 tạm tính đến tháng 7/2023 là 157.020.455 đồng. Tổng cộng là 162.218.455 đồng. Tiền thuê được tiếp tục tính với giá thuê theo Hợp đồng giao nhận thầu giữ xe số 10/HĐGX/2016 ký ngày 20/10/2016 cho đến khi Công ty cổ phần Đ bàn giao mặt bằng cho Ban quản trị chung cư Lê Thị R.
[1.4] Ghi nhận sự tự nguyện của Ban quản trị chung cư Lê Thị R hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Đ số tiền bảo lãnh thực hiện Hợp đồng là 60.000.000 đồng và số tiền ký quỹ rủi ro là 200.000.000 đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[2] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần Đ buộc Ban quản trị chung cư Lê Thị R thanh toán số tiền 1.574.697.000 đồng gồm:
[2.1] Số tiền 1.387.200.000 đồng và tiền lãi 10.404.000 đồng do B quản trị không bàn giao giấy tờ và ủy quyền để bị đơn xây dựng lên tầng nhà xe phía sau.
[2.2] Số tiền 31.200.000 đồng và lãi suất 468.000 đồng do tháng 01/2022 nhà nước lấy mất đi thêm ngang 14m dài 1.2m mở đường.
[2.3] Bồi thường thiệt hại số tiền 138.665.000 đồng, tiền lãi 4.680.000 đồng do ban quản trị mở thêm ba điểm giữ xe dẫn đến lượng xe gửi tại bãi của bị đơn bị giảm sút và thiệt hại lợi nhuận.
3. Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về chấm dứt hợp đồng: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng Công ty cổ phần Đ chịu.
Đối với yêu cầu thanh toán tiền thuê mặt bằng: Công ty cổ phần Đ chịu 8.110.923 (tám triệu một trăm mười ngàn chín trăm hai mươi ba) đồng .
Đối với yêu cầu phản tố: Công ty cổ phần Đ chịu 59.240.910 (năm mươi chín triệu hai trăm bốn chục ngàn chín trăm mười ) đồng nhưng được trừ vào số tiền án phí đã nộp là 29.620.455 ( hai mươi chín triệu sáu trăm hai chúc ngàn bốn trăm năm mươi lăm ) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035040 ngày 25/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty cổ phần Đ phải nộp thêm 29.620.455 đồng.
H2 lại cho B quản trị chung cư Lê Thị R số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035140 ngày 20/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019367 ngày 01/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty cổ phần Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0035276 ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vân |
Bản án số 1259/2023/DSPT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Số bản án: 1259/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC hợp đồng thuê mặt bằng
