Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1257/2023/DS-PT

Ngày: 26/12/2023

V/v Tranh chấp yêu cầu thực hiện trách nhiệm dân sự.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy

Các Thẩm phán:

  1. Bà Vũ Thị Thu Hương
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 tháng 12 năm 2023, ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 509/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu thực hiện trách nhiệm dân sự”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 330/2023/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5027/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16159/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hương L, sinh năm: 1959

    Địa chỉ: Số B đường P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1968 (theo Giấy ủy quyền ngày 15/11/2023) (có mặt).

    Địa chỉ: Số D đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn:

    Bà Huỳnh Thị V năm: 1965

    Ông Huỳnh Ngọc H năm: 1966(xin vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Số D P, Lô R, khu phố C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị V1: Bà Bùi Mai T1 (theo Giấy ủy quyền ngày 10/6/2020) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Huỳnh Thị V1: Luật sư Phạm Tuấn A, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Công ty TNHH MTV T5.

    Địa chỉ: Số C P, Lô R, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị V1, chức vụ: Giám đốc (xin vắng mặt)

    - Ông Trần Huỳnh Quốc T2, sinh năm: 1986 (xin vắng mặt)

    - Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm: 1986 (xin vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Số A N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    - Ông Trần Văn T3, sinh năm: 1956 (vắng mặt)

    Địa chỉ thường trú: Số G L, Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

    Địa chỉ liên lạc: Số E Đường T, phường T, quận T.

  2. Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị V1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Đặng Thị Hương L:

Theo lời khai của bà Huỳnh Thị V1 trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp số 862/2016/TLST-HNGĐ ngày 21/7/2016 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân về việc “Ly hôn và chia tài sản khi ly hôn” xác định bà Đặng Thị Hương L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án nêu trên bà Huỳnh Thị V1 khai rằng cả hai vợ chồng bà Huỳnh Thị V1 có nợ bà Đặng Thị Hương L số tiền là 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng). Theo bà Huỳnh Thị V1, đây là nợ chung mà cả hai đều có trách nhiệm trả cho bà Đặng Thị Hương L trước khi tiến hành chia tài sản chung. Nội dung này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế số nợ của bà Huỳnh Thị V1 và ông Huỳnh Ngọc H1, phát sinh từ Giấy biên nhận ngày 02/6/2015, Giấy biên nhận ngày 06/6/2015 và Giấy cam kết ngày 25/7/2015. Số tiền thể hiện trong các chứng từ này nhiều hơn thực tế đã kê khai vì bà Huỳnh Thị V1 đã nhiều lần trả trước một phần nợ theo các chứng từ trên nên chỉ còn nợ 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng). Do đó, bà Đặng Thị Hương L khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Thị V1 cùng có trách nhiệm trả lại cho bà Đặng Thị Hương L số tiền 5.100.000.000đ (năm tỷ một trăm triệu đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị V1 có người đại diện theo ủy quyền là bà Bùi Mai T1 trình bày:

Bà Huỳnh Thị V1 đã chuyển trả nhiều hơn số tiền đã mượn của bà Đặng Thị Hương L. Việc bà Đặng Thị Hương L khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Thị V1 cùng có trách nhiệm trả lại cho bà Đặng Thị Hương L số tiền 5.100.000.000đ (năm tỷ một trăm triệu đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật là không đúng sự thật và không có căn cứ.

Do đó, bị đơn không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Ngọc H1 trình bày:

Ông xác định không vay mượn bất cứ khoản tiền nào của bà Đặng Thị Hương L, khoản nợ bà Đặng Thị Hương L khởi kiện là của Công ty TNHH MTV T5, không liên quan đến ông. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Hương L là buộc ông Huỳnh Ngọc H1 có trách nhiệm cùng bà Huỳnh Thị V1 trả nợ cho bà Đặng Thị Hương L.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV T5 (gọi tắt là Công ty TNHH MTV T5) có bà Huỳnh Thị V1 làm đại diện theo pháp luật trình bày:

Trước đây Công ty TNHH MTV T5 có vay của bà Đặng Thị Hương L số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) và đã thanh toán xong. Do đó, Công ty TNHH MTV T5 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T3 trình bày:

Ngày 23/6/2015, tài khoản của ông tại S có nhận số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) do ông Trần Huỳnh Quốc T2 chuyển đến. Số tiền này là do bà Đặng Thị H2 L trả tiền dịch vụ cho ông. Bà Đặng Thị Hương L nói có người trả nợ cho bà Đặng Thị Hương L do mượn kinh doanh ngắn ngày và bà Đặng Thị Hương L sẽ yêu cầu người đó chuyển tiền cho ông. Sau đó thì tài khoản của ông nhận được 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng) do ông T2 chuyển vào tài khoản.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Huỳnh Quốc T2 trình bày:

Ông là con trai của bà Huỳnh Thị V1. Trước đây, do bận việc nên mẹ ông có nhờ ông đến gặp bà Đặng Thị Hương L để nhận dùm mẹ ông các khoản tiền mà mẹ ông mượn của bà Đặng Thị Hương L. Các lần nhận tiền từ bà Đặng Thị Hương L, ông đều có ký giấy nhận tiền. Sau đó, ông đã chuyển khoản vào tài khoản số 0071005554786 tại Ngân hàng V2 do bà Đặng Thị Hương L đứng tên chủ tài khoản và đem tiền mặt qua giao cho bà Đặng Thị Hương L, cụ thể là:

Ngày 24/6/2015 chuyển 1.000.000.000 đồng

Ngày 03/7/2015 chuyển 1.000.000.000 đồng

Ngày 12/8/2015 chuyển 2.500.000.000 đồng

Ngày 07/9/2015 chuyển 4.000.000.000 đồng.

Ngày 23/6/2015 bà Đặng Thị Hương L còn chỉ định ông chuyển vào tài khoản của ông Trần Văn T3 số tiền 3.000.000.000 đồng.

Các lần ông Trần Huỳnh Quốc T2 giao tiền mặt cho bà Đặng Thị Hương L:

Ngày 11/11/2015 giao 5.000.000.000 đồng

Ngày 11/3/2016 giao 500.000.000 đồng

Ngày 03/6/2016 giao 400.000.000 đồng

Ngày 23/6/2016 giao 500.000.000 đồng

Ngày 03/8/2016 giao 200.000.000 đồng

Ngày 11/8/2016 giao 100.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền mà ông đã chuyển khoản và giao tiền mặt cho bà Đặng Thị Hương L là 18.200.000.000 đồng.

Ông xác nhận ông chỉ là người nhận tiền và chuyển tiền giùm cho mẹ ông là bà Huỳnh Thị V1. Nay giữa bà Đặng Thị Hương L và bà Huỳnh Thị V1 phát sinh tranh chấp, ông xác định không liên quan và xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án. Ông Trần Huỳnh Quốc T2 không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc L1 trình bày:

Bà là con dâu của bà Huỳnh Thị V1. Ngày 17/11/2015, bà Huỳnh Thị V1 có nhờ bà chuyển vào tài khoản của bà Đặng Thị Hương L số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Bà xác định số tiền đã chuyển là tiền của mẹ chồng bà chứ bà không liên quan đến việc vay mượn giữa bà Đặng Thị Hương L và bà Huỳnh Thị V1. Do đó, bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án. Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 330/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Hương L đối với bà Huỳnh Thị V1, ông Huỳnh Ngọc H1 phát sinh từ giấy cam kết ngày 25/7/2015 được xác lập giữa hai bên.

    Buộc bà Huỳnh Thị V1, ông Huỳnh Ngọc H1 có trách nhiệm trả cho bà bà Đặng Thị Hương L số tiền 2.750.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền 2.350.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Đại diện nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự y án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Bình Tân tuyên án ngày 26 tháng 7 năm 2023. Bị đơn bà Huỳnh Thị V1 có mặt khi hội đồng xét xử tuyên án. Ngày 09 tháng 8 năm 2023, bà Huỳnh Thị V1 có đơn kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.

[2]Về nội dung: Xét kháng cáo của đại diện nguyên đơn đối với bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giữa bà Đặng Thị Hương L và bà Huỳnh Thị V1, ông Huỳnh Ngọc H1 đã xác lập nhiều giao dịch làm ăn qua lại với nhau. Đến ngày 25/7/2015, hai bên lập giấy cam kết có nội dung xác định bên A (bên cho vay) là bà Đặng Thị Hương L, bên B (được vay) là ông Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Thị V1, hai bên cùng cam kết xác nhận số tiền và cùng làm ăn: Tiền mua xà lan: bảy tỷ rưỡi đồng; T4 góp vốn: chín tỷ rưỡi đồng và tiền vốn vay: chín tỷ đồng. Ông Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Thị V1 cam kết sẽ trả tiền cho bà Đặng Thị Hương L trong bất kỳ tình huống nào cũng phải trả 25.500.000.000 đồng (hai mươi lăm tỷ năm trăm triệu đồng). Giấy cam kết này được hai bên tự nguyện xác lập, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Huỳnh Thị V1, ông Huỳnh Ngọc H1 đối với bà Đặng Thị Hương L. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị V1 không phản đối nội dung Giấy cam kết ngày 25/7/2015, ông Huỳnh Ngọc H1 cũng xác nhận chữ ký của ông Huỳnh Ngọc H1 trên giấy cam kết là của ông Huỳnh Ngọc H1. Mặc dù giấy cam kết không quy định thời hạn trả tiền nhưng theo bà Huỳnh Thị V1 thừa nhận tại Biên bản đối chất ngày 08/02/2018 theo vụ án “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” Tòa án nhân dân quận Bình Tân thụ lý số 826/2016/TLST-HNGĐ ngày 21/7/2016 thì “thời gian vay trả ngay trong năm nhưng do hụt tiền nên trả dần còn lại 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng)”. Nay nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện trách nhiệm trả khoản tiền còn thiếu từ Giấy cam kết ngày 25/7/2015 là 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng). Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án chỉ xem xét trong phạm vi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ đối với cả nguyên đơn và bị đơn để làm rõ các giao dịch liên quan đến số tiền 25.500.000.000 đồng (hai mươi lăm tỷ năm trăm triệu đồng) theo Giấy cam kết ngày 25/7/2015. Nguyên đơn sau đó đã cung cấp cho Tòa án tài liệu liên quan đến việc chuyển tiền cho bị đơn bao gồm: Giấy biên nhận vay tiền lập ngày 02/6/2015 và Giấy biên nhận vay tiền lập ngày 06/6/2015 của Công ty TNHH MTV T5 do bà Huỳnh Thị V1 ký tên và có đóng dấu xác nhận của Công ty TNHH MTV T5. Nội dung của hai giấy biên nhận vay tiền nêu trên đều thể hiện Công ty TNHH MTV T5 có nhận tiền từ bà Đặng Thị Hương L và cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền đã vay cho bà Đặng Thị Hương L trong vòng 30 ngày theo Biên nhận ngày 02/6/2015 và 15 ngày theo Biên nhận ngày 06/6/2015. Tổng số tiền mà Công ty TNHH MTV T5 nhận từ bà Đặng Thị Hương L là 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Hai biên nhận này đều xác lập trước thời điểm lập giấy cam kết 25/7/2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, hai bên đều thừa nhận khoản tiền vay của Công ty TNHH MTV T5 đã được tính toán vào số tiền của Giấy cam kết ngày 25/7/2015. Việc Công ty TNHH MTV T5 chuyển giao nghĩa vụ cho ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Thị V1 được sự đồng ý của bên có quyền là bà Đặng Thị Hương L là phù hợp với quy định Điều 370 Bộ luật Dân sự.

Xét các tài liệu chứng cứ bà Huỳnh Thị V1 cung cấp để chứng minh đã trả tiền cho nguyên đơn theo Biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ ngày 31/7/2020, gồm 16 tài liệu, chứng cứ. Trong đó, có những tài liệu xác lập trước ngày 25/7/2015. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền theo nội dung Giấy cam kết ngày 25/7/2015 nên bị đơn phải chứng minh đã trả tiền cho nguyên đơn sau khi ký cam kết. Bị đơn chứng minh việc đã trả tiền thông qua việc giao tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản của ông Trần Huỳnh Quốc T2 (là con trai của bà Huỳnh Thị V1) và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 (con dâu bà Huỳnh Thị V1), các giao dịch trả tiền phát sinh sau ngày 25/7/2015 bao gồm:

  • + Ngày 12/8/2015, ông T2 chuyển vào tài khoản bà Đặng Thị Hương L 2.500.000.000 đồng;

  • + Ngày 07/9/2015, ông T2 chuyển vào tài khoản bà Đặng Thị Hương L 4.000.000.000 đồng;

  • + Ngày 17/11/2015, bà L1 chuyển vào tài khoản bà Đặng Thị Hương L 50.000.000 đồng;

Bà Đặng Thị Hương L đã nhận tiền mặt với số tiền là:

  • +Ngày 11/11/2015, bà Đặng Thị Hương L nhận: 5.000.000.000 đồng;

  • +Ngày 17/12/2015, bà Đặng Thị Hương L nhận: 9.000.000.000 đồng;

  • +Ngày 11/03/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận (ông T2 trả): 500.000.000 đồng;

  • +Ngày 03/06/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận (ông T2 trả): 400.000.000 đồng;

  • + Ngày 23/06/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận: 500.000.000 đồng;

  • +Ngày 02/07/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận: 500.000.000 đồng;

  • +Ngày 03/08/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận: 200.000.000 đồng;

  • +Ngày 11/08/2016, bà Đặng Thị Hương L nhận: 100.000.000 đồng;

Tổng cộng: 22.750.000.000đ (hai mươi hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo giấy cam kết ngày 25/7/2015 (nguyên đơn cho rằng số tiền phải trả là 25.500.000.000 đồng, bị đơn đã trả một phần nên còn phải tiếp tục trả 5.100.000.000 đồng). Tuy nhiên. bị đơn chứng minh được số tiền đã trả cho nguyên đơn sau thời điểm ký giấy cam kết là 22.750.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền còn thiếu 25.500.000.000 đồng - 22.750.000.000 đồng = 2.750.000.000đ (hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) là phù hợp.

Xét bà Huỳnh Thị V1 cho rằng số tiền bà đã trả cho bà Đặng Thị Hương L nhiều hơn số tiền bà vay của bà Đặng Thị Hương L. Hội đồng xét xử nhận thấy: trong vụ án “Ly hôn và chia tài chung” với ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Thị V1 thừa nhận còn nợ bà Đặng Thị Hương L số tiền là 5.100.000.000 đồng (năm tỷ một trăm triệu đồng) và yêu cầu ông Huỳnh Ngọc H1 phải có trách nhiệm trả nợ cùng bà. Khi Tòa án nhân dân quận Bình Tân tách vụ án, bà Huỳnh Thị V1 lại cho rằng mình đã trả nợ vượt quá số tiền bà Đặng Thị Hương L cho vay. Xét nghĩa vụ chứng minh việc trả tiền thuộc về bị đơn. Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc trả tiền mặt, tiền chuyển khoản thông qua tài khoản của con trai bà Huỳnh Thị V1 là ông Trần Huỳnh Quốc T2 và con dâu của bà Huỳnh Thị V1 là bà Nguyễn Thị Ngọc L1 đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, thể hiện bà Huỳnh Thị V1 chỉ trả cho bà Đặng Thị Hương L kể từ thời điểm ký giấy cam kết với tổng số tiền 22.750.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện bị đơn cho rằng khi bà Huỳnh Thị V1 ông Huỳnh Ngọc H1 ký giấy cam kết với bà Đặng Thị Hương L, hai bên chỉ tính toán đến số tiền nợ chứ không tính đến số tiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn trước khi lập giấy cam kết nhưng lời khai này của bị đơn không được nguyên đơn chấp nhận và bị đơn cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận ý kiến phản đối của bà Huỳnh Thị V1 về việc không đồng ý trả tiền cho bà Đặng Thị Hương L là phù hợp.

Ông Huỳnh Ngọc H1 thừa nhận chữ ký, chữ viết trên Giấy cam kết ngày 25/7/2015 là của mình nhưng ông cho rằng khoản nợ bà Đặng Thị Hương L khởi kiện là của Công ty TNHH MTV T5, không liên quan đến ông. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Giấy cam kết ngày 25/7/2015 được xác lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Thị V1 có nội dung trong bất kỳ tình huống nào ông Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Thị V1 cũng phải trả 25.500.000.000 đồng cho bà Đặng Thị Hương L. Số tiền nợ ghi nhận tại Giấy cam kết ngày 25/7/2015 là số tiền mà Công ty TNHH MTV T5 còn nợ bà Đặng Thị Hương L. Từ đó nhận thấy khoản nợ của Công ty TNHH MTV T5 đã được chuyển giao nghĩa vụ cho ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Thị V1. Do đó ông Huỳnh Ngọc H1 cho rằng ông ký tên trên giấy cam kết nhưng ông không liên quan, không có trách nhiệm trả nợ là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Huỳnh Thị V1, ông Huỳnh Ngọc H1 cùng có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn là có căn cứ.

Từ những nhận định trên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị V1.

Tại phần quyết định về án phí của bản án sơ thẩm tuyên: “Bà Đặng Thị Hương L ...”. Ngày 17/12/2023, bà Đặng Thị Hương L có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm. Xét thấy bà Đặng Thị Hương L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, thuộc trường hợp được miễn án phí sơ thẩm theo Luật Người cao tuổi và Nghị quyết 326 . Do vậy, cần điều chỉnh lại nội dung về án phí để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là: “Bà Đặng Thị Hương L là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn tiền án phí. Hoàn trả cho bà Đặng Thị Hương L số tiền tạm ứng án phí là 56.550.000 đồng (năm mươi sáu triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 02191 ngày 10/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.”

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị V1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị V1.

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 330/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh:

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị Hương L được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Huỳnh Thị V1 phải chịu 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2023/0026139 ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

Trần Thị Kim Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1257/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu thực hiện trách nhiệm dân sự

  • Số bản án: 1257/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu thực hiện trách nhiệm dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thực hiện trách nhiệm dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger