Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1255/2023/DS-PT

Ngày: 26/12/2023

“V/v tranh chấp đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim.

Các Thẩm phán: 1/ Bà Lê Thị Ngọc Hương.

2/ Bà Nguyễn Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2023 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 530/2023/TLPT-DS ngày 24/10/2023, về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1082/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8996/2023/QĐPT-DS ngày 03/11/2023 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 3156/2023/QĐ-PT ngày 29/11/2023 của Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1 Ông Lê Thành P. (Vắng mặt).

Địa chỉ: C D, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2 Bà Nguyễn Xuân K. (Vắng mặt)

Địa chỉ: G đường số C, khu dân cư A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà K: Ông Lữ Thanh P1. (Có mặt)

Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Thành P: Luật sư Nguyễn Băng T – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M. (vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: 9 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: 267 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức B. (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:Nguyễn Thị B1. (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 9 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: 267 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Công Đ. (Có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ liên lạc: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2021 của nguyên đơn, các bản tự khai và các biên bản hòa giải, lời trình bày tại Tòa ông Lữ Thanh P1 là Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, cùng luật sư thể hiện như sau:

Vợ chồng ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn M, do ông P là mối chở hàng của ông M.

Vào ngày 15/3/2012, vợ chồng ông P, bà K có cho ông Nguyễn Văn M vay số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng, hai bên ký kết Hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C1 (địa chỉ: số I N, Phường N, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh). Hợp đồng vay tiền này có thỏa thuận lãi suất 2%/tháng với thời hạn là 06 tháng kể từ ngày hai bên ký kết hợp đồng, mục đích vay làm việc riêng, trả lãi vào ngày 14 dương lịch hàng tháng. Ông PK đã giao cho ông M nhận đủ số tiền vay trên, khi nhận ông M đã ký nhận vào Hợp đồng vay tiền. Trong hợp đồng có thỏa thuận khi giao tiền phải lập biên nhận giấy tờ, nhưng do không hiểu biết nên ông P, bà K không lập biên bản giao nhận tiền với ông M.

Đến hạn, ông P, bà K yêu cầu ông M trả nợ thì ông M hứa hẹn và để sự việc kéo dài nhiều năm qua.

Nay, ông P và bà K yêu cầu ông M phải trả lại số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu) còn chiếm giữ của ông bà chưa trả, làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ông P, bà K không yêu cầu trách nhiệm liên đới của vợ ông M là bà Nguyễn Thị B1 trong việc trả lại số tiền này.

Ngày 14/3/2023, nguyên đơn có đơn đề nghị không thực hiện thủ tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn: Theo biên bản tự khai, các biên bản hòa giải, các lời trình bày tại Tòa của bị đơn do ông Nguyễn Đức B là Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền thể hiện:

Ông Nguyễn Văn M xác nhận có ký kết hợp đồng vay tiền ngày 15/3/2012 tại Văn phòng C1 (địa chỉ: số I N, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) với nội dung ông Nguyễn Văn M đồng ý vay của ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng, lãi suất 2%/tháng. Theo hợp đồng, việc vay này không thế chấp, cầm cố tài sản gì, cũng không có bất kỳ nghĩa vụ bảo đảm nào, chỉ thống nhất là sau khi ký kết hợp đồng vay sẽ giao tiền, không nêu địa điểm, thời gian cụ thể. Thời hạn vay 06 tháng, mục đích số tiền vay tiêu xài cá nhân.

Từ khi ký hợp đồng vay đến nay, ông PK không giao số tiền trên cho ông M. Giữa hai bên không có sự liên lạc với nhau, phía nguyên đơn không giao tiền như thỏa thuận, thời hạn hợp đồng 06 tháng cũng đã hết hạn, nay M nhận thấy giữa hai bên không liên quan với nhau. Việc vợ chồng ông P, bà K khởi kiện là vô lý.

Do chưa nhận tiền, không có giao dịch nên ông M cũng không đóng tiền lãi tháng nào cho bên cho vay. Do đó, ông M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là Bà Nguyễn Thị B1 do ông Hà Công Đ – Người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguyễn Thị B1 là vợ của ông Nguyễn Văn M. Bà B1 không biết việc vay mượn, sử dụng tài sản của ông M.

Từ năm 2010 đến nay, ông M không đưa tiền cho bà để sử dụng chung trong gia đình. Ông M cũng không cho mẹ con bà đồng nào.

Nay, bà B1 xác định ông M vay mượn tài sản của ai thì ông M có trách nhiệm tự trả, không liên quan đến bà B1. Bà B1 không đồng ý trả bất kỳ khoản nợ nào mà ông M tự ý đi vay mượn khi chưa có sự đồng ý của bà B1.

Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa vụ án ra xét xử.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1082/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K; buộc ông Nguyễn Văn M phải hoàn trả số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng cho ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K làm một lần, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

1. Về án phí dân sự sơ thẩm là 51.000.000 đồng (Năm mươi mốt triệu) ông Nguyễn Văn M phải chịu.

Ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.500.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng theo Biên lai thu số 89674 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, tại Quyết định sửa chữa bổ sung Bản án dân sự sơ thẩm số 252/2023/DS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã sửa chữa như sau:

-Tại dòng thứ 2 trang 7 tính từ dưới lên đã ghi: “ngày 15/3/2021. Đây là hợp đồng có hiệu lực pháp luật từ thời điểm ký kết. Như..."

Nay được sửa chữa như sau: “Ngày 15/3/2012. Đây là hợp đồng có hiệu lực pháp luật từ thời điểm ký kết. Như..."

-Tại dòng thứ 2 trang 8 tính từ trên xuống đã ghi: “đồng (Một tỷ ba trăm triệu) đã được xác lập có hiệu lực pháp luật thi hành từ ngày 15/2/2015."

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “đồng (Một tỷ ba trăm triệu) đã được xác lập có hiệu lực pháp luật thi hành từ ngày 15/3/2012."

-Tại dòng 4 trang 10 tính từ trên xuống đã ghi: “đồng (Hai mươi lăm triệu) theo Biên lai thu số 89674 ngày 04/5/2021 của C

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn) theo Biên lai thu số 89674 ngày 04/5/2021 của C

-Tại dòng 11 trang 10 tính từ dưới lên đã ghi “tạm ứng án phí đã nộp là 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu) theo Biên lai thu”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “tạm ứng án phí đã nộp là 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn) theo Biên lai thu”.

* Ngày 29/6/2023 bị đơn đơn ông Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.

-Bị đơn: Có người đại diện theo ủy quyền trình bày yêu cầu kháng cáo: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn không có nhận tiền, giữa hai bên không có bất kỳ giao nhận số tiền vay, thời hạn hợp đồng 06 tháng đã hết, rất nhiều năm giữa hai bên không gặp nhau. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Xét thấy, tại Điều 1 của Hợp đồng vay tiền ngày 15/3/2012 do Văn phòng C2 thấy rằng các bên có thỏa thuận “Việc giao và nhận số tiền này do hai bên tự thực hiện ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên ký tên dưới đây. Khi giao nhận tiền hai bên có làm biên nhận riêng”. Văn phòng C1 có Công văn số 53/CV-CCBT ngày 14/9/2022 phản hồi Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, theo đó Văn phòng C1 không xác nhận công chứng viên có chứng kiến việc giao nhận tiền giữa ông P, bà K với ông M. Phía nguyên đơn xác định không làm biên nhận riêng khi giao tiền, phía bị đơn phủ nhận có nhận tiền. Do đó, căn cứ vào các tài liệu và lời trình bày của các đương sự, thấy rằng các bên phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc giao nhận tiền với nhau. Do lời khai các bên mâu thuẫn, phía nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ thuyết phục chứng minh có đưa cho bị đơn 1.300.000.000 đồng, nguyên đơn cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh có việc đi đòi số tiền đã cho vay vì hợp đồng vay tiền có thời hạn 06 tháng, hết thời hạn vay nhưng trong suốt thời gian dài (gần 12 năm) phía nguyên đơn không thực hiện yêu cầu đòi nợ như đã nêu trên, nên yêu cầu khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận.

Cấp sơ thẩm căn cứ theo Điều 2 của Hợp đồng vay ngày 15/3/2012 để xác định các bên đã giao đủ và nhận đủ, từ đó xác định nguyên đơn có giao cho bị đơn 1.300.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ trong hợp đồng các bên không xác định là giao bao nhiêu và nhận bao nhiêu. Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn cũng không trình bày được là bao nhiêu tiền, mệnh giá thế nào, giao tại đâu, giao trước hay giao sau thời điểm ký công chứng.

Từ những phân tích trên, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm số 1082/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, bà K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Ngày 16/6/2023, Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, ngày 29/6/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, thủ tục kháng cáo thực hiện đúng, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

- Việc ủy quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa của các đương sự là hợp lệ nên được chấp nhận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 có người đại diện theo ủy quyền ông Hà Công Đ được triệu tập hợp lệ và có đơn xin vắng mặt nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về kháng cáo của của đương sự:

[2.1] Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày yêu cầu kháng cáo: Sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì các lý do:

Dù hợp đồng vay này có thực hiện tại Văn phòng công chứng, tuy nhiên tại Điều 1 hai bên thỏa thuận rõ: “Việc giao và nhận số tiền này sẽ do hai bên tự thực hiện ngoài sự chứng kiến của Công Chứng V ký tên dưới đây. Khi giao nhận tiền hai bên có làm biên nhận riêng”. Thời hạn vay của hợp đồng là 06 tháng. Kể từ khi ký hợp đồng, nguyên đơn không đưa số tiền cho bị đơn vay, cả hai bên không gặp nhau và cũng không có liên lạc nhau. Do bị đơn không nhận tiền và đã quá hạn 06 tháng là hết hạn hợp đồng nên hợp đồng này không có giá trị nữa. Căn cứ vào điều khoản trên, buộc nguyên đơn đưa ra biên nhận hoặc giấy tờ về giao nhận tiền giữa hai bên, cũng như tài liệu khác có liên quan đến việc vay mượn này. Nếu không chứng minh được đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn thừa nhận không có giấy tờ về việc giao nhận tiền giữa nguyên đơn và bị đơn, ngoài hợp đồng này thì không còn giấy tờ nào khác. Cũng không biết được số tiền mà ông P, bà K giao cho ông M thời điểm nào. Chỉ biết rằng số tiền đã giao xong, ông M đã nhận đủ, nhưng không trả nợ, không trả lãi cho ông P, bà K. Từ thời điểm ký hợp đồng ngày 15/3/2012 đến nay các đương sự cũng không có lập bất kỳ giấy tờ hay văn bản nào thể hiện có thực hiện giao dịch theo hợp đồng vay nêu trên.

Luật sư của nguyên đơn cho rằng, tại Điều 2 của hợp đồng có ghi “Hai bên cùng cam kết bên A đã giao đủ và bên B đã nhận đủ số tiền nêu trên” điều này là bên nguyên đơn đã giao tiền cho bị đơn. Như vậy, bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn.

[2.3] Xét thấy:

[2.3.1] Đây là hợp đồng vay tài sản được lập xác nhận ý chí của các bên tham gia giao dịch về việc vay tiền có chứng nhận của Cơ quan Công chứng. Nhưng việc giao và nhận tiền nằm ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên.

Tại Điều 1 của hợp đồng hai bên thỏa thuận: “Điều 1: ...Bên B đồng ý vay của bên A số tiền là: 1.300.000.000 VNĐ... - Thời hạn vay: 06 (sáu) tháng, kể từ ngày hai bên ký hợp đồng này. – Lãi suất: 2%/tháng. Bên B trả tiền lãi cho bên A vào ngày 14 dương lịch hàng tháng. – Việc giao và nhận tiền này sẽ do hai bên tự thực hiện ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên ký tên dưới đây. Khi giao nhận tiền hai bên có làm biên nhận riêng.

Tại Điều 2: “Bên B có nghĩa vụ trả cho bên A theo đúng thời hạn nêu trên. Nếu đến hạn mà bên B không trả đủ tiền vốn cho bên A mà hai bên không có thỏa thuận gì khác, thì bên A có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thủ tục thu hồi số tiền nêu trên cho bên A theo quy định của pháp luật.

- Bên B cam kết sử dụng số tiền vay vì mục đích cá nhân riêng của bên B. Bên B cam kết sử dụng các tài sản riêng của bên B để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên khi đến hạn.

- Bên A cam kết số tiền cho vay là tài sản riêng hợp pháp của bên A.

- Hai bên cùng cam kết bên A đã giao đủ và bên B đã nhận đủ số tiền nêu trên"

[2.3.2] Qua thu thập tài liệu, chứng cứ thì cũng không có ghi âm, ghi hình về giao dịch của hai bên tại Cơ quan công chứng các bên đã lựa chọn.

Văn phòng C1 có Công văn số 53/CV-CCBT ngày 14/9/2022 phản hồi Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, theo đó Văn phòng C1 không xác nhận công chứng viên có chứng kiến việc giao nhận tiền giữa ông P, bà K với ông M.

- Bên nguyên đơn cho rằng, căn cứ vào Điều 2 đủ cơ sở đã giao tiền cho bị đơn.

- Còn phía bị đơn không đồng ý mà cho rằng việc giao nhận tiền hai bên đã thỏa thuận rõ phải lập giấy tờ biên nhận và yêu cầu nguyên đơn xuất trình giấy giao nhận tiền, bởi giấy giao nhận tiền của hai bên là điều kiện bắt buộc phải có để chứng minh có việc thực hiện giao dịch vay tiền này. Thực tế cũng không có việc giao nhận khoản tiền 1.300.000.000 (Một tỉ ba trăm triệu) đồng.

[2.3.3] Để làm rõ vấn đề, tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi đối chất giữa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn cùng người đại diện hợp pháp của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Khi tiến hành đối chất về diễn biến quá trình giao và nhận tiền giữa bên vay và bên cho vay thực hiện trước hay sau khi ký công chứng, số tiền giao bao nhiêu, ai giao, giao bao nhiêu đợt, mệnh giá tiền bao nhiêu, nơi giao nhận tiền, có người chứng kiến không, ...thì người đại diện cho nguyên đơn trả lời không biết, Luật sư của nguyên đơn thì không xác định chính xác tiền được giao khi nào, trước hay sau khi ký công chứng. Luật sư trình bày, do nguyên đơn không nói rõ về việc giao và nhận tiền vay giữa hai bên, Luật sư cũng không có mặt tại thời điểm các bên giao dịch nên không trả lời chính xác được. Như vậy, nguyên đơn chưa chứng minh được có việc giao tiền, không xác định được thời điểm giao trước hay sau khi ký hợp đồng tại Văn phòng Công chứng, nên nội dung được ghi trong hợp đồng “Hai bên cùng cam kết bên A đã giao đủ và bên B đã nhận đủ số tiền nêu trên” là chưa xác đáng.

- Ngoài ra, căn cứ vào lời khai tại phiên tòa phúc thẩm, giữa người đại diện của nguyên đơn, Luật sư của nguyên đơn hoàn toàn bất nhất với lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Luật sư cho rằng, số tiền vay giao ngay cho bị đơn, bị đơn nhận tiền mà không cần kiểm đếm, mới tiến hành ký công chứng, sau đó Luật sư lại thay đổi lời khai cho rằng ký công chứng xong mới giao tiền và cuối cùng xác định do không có mặt nên không thể trả lời một cách chính xác. Còn người đại diện nguyên đơn khẳng định không biết về nội dung này.

Hội đồng xét xử yêu cầu lý giải chưa giao tiền tại sao có nội dung Hai bên cùng cam kết bên A đã giao đủ và bên B đã nhận đủ số tiền nêu trên” thì Luật sư xác định phía ông P, bà K không có nói chính xác và bản thân Luật sư không có chứng kiến nên không trả lời được, còn người đại diện cho nguyên đơn khẳng định không biết việc giao số tiền này ở đâu, thế nào.

Lời khai này so với các lời khai tại cấp sơ thẩm như tại các bản bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 16/5/2022 (BL 118) và ngày 01/12/2022 (BL 119), tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, phía bên nguyên đơn có nhiều mâu thuẫn trong việc xác định thời điểm giao 1.300.000.000 (Một tỉ ba trăm triệu) đồng cho ông M là trước, ngay hay là sau khi ký công chứng hợp đồng vay tiền, lý do không kiểm đếm tiền khi giao nhận, nơi giao nhận tiền. Và không có bất kỳ giấy tờ chứng minh việc giao nhận tiền nào được xuất trình.

[2.3.4] Về quá trình thực hiện hợp đồng: Suốt quá trình từ ngày 15/3/2012 đến ngày khởi kiện là hơn 10 năm nhưng giữa hai bên không liên lạc, không qua lại không có bất kỳ hành động đòi tiền lãi, khoản nợ gốc hay tranh chấp nào xảy ra, dù bị đơn vẫn đang thường trú tại 9 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không có thay đổi địa chỉ thường trú so với hợp đồng vay.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn không lý giải được việc này, trong khi số tiền vay lớn, hợp đồng vay có công chứng rõ ràng, khi khởi kiện cũng yêu cầu luật sư bảo vệ quyền lợi ích cho mình, chứng tỏ nguyên đơn đã thể hiện rõ sự hiểu biết về pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình.

Bên cạnh đó, đây là hợp đồng vay có lãi, bị đơn buộc phải chi u lãi trong thời hạn vay nhưng nguyên đơn không yêu cầu trả lãi mà hơn 10 năm sau mới đi khởi kiện đòi khoản tiền gốc và bỏ lãi nhưng không đưa ra được giải thích thuyết phục.

- Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài hợp đồng thì nguyên đơn không còn chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, trong khi bị đơn không thừa nhận lý lẽ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.3.5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng phía nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và Luật sư có lời khai nhiều lần bất nhất, mâu thuẫn, hoàn toàn không chứng minh được hợp đồng vay tiền đã được thực hiện, cụ thể là bên cho vay đã giao cho bên vay khoản tiền 1.300.000.000 (Một tỉ ba trăm triệu) đồng (không có giấy giao nhận tiền vay hoặc chứng cứ nào chứng minh đã giao nhận tiền).

Như vậy, có cơ sở xác định hợp đồng vay tiền ngày 15/3/2012 lập tại Văn phòng C1 chưa được thực hiện, không có việc giao nhận khoản tiền vay 1.300.000.000 (Một tỉ ba trăm triệu) đồng giữa 2 bên, nên ông M không có trách nhiệm trả cho bà P và ông K khoản tiền trên. Kháng cáo của ông M là có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử phúc thẩm cần sửa án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M, bác yêu cầu khởi kiện của ông P, bà K.

3. Đề nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đồng quan điểm với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K phải chịu do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

5. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ông M được hoàn lại tạm ứng án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 1082/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K về việc: Buộc ông Nguyễn Văn M phải hoàn trả số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng cho ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 51.000.000 (Năm mươi mốt triệu) đồng phía ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 89674 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K có trách nhiệm nộp thêm 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn lại cho ông Nguyễn Văn M số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0028095 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Nhân dân Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS Quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1255/2023/DS-PT ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 1255/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 1082/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc "Tranh chấp đòi tài sản": Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân Kvề việc: Buộc ông Nguyễn Văn Mphải hoàn trả ốs tiền 1.300.000.000 (Một ỷt ba trăm triệu) đồng cho ông Lê Thành P và bà Nguyễn Xuân K.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger