Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 125/2023/HS-ST

Ngày 31-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;
  2. Ông Phan Ngọc Thạch;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, Thư ký Tòa án nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2023/TLHS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Thị Mộng H (P), sinh năm 1999 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình Việt T, sinh năm 1976 và bà Trần Thị M, sinh năm 1978; chồng tên Phạm Văn T1, sinh năm 1996 (đã ly hôn); con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14-8-2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 21-5-2023, Vũ Thị Mộng H điều khiển xe môtô biển số 70H1-280.87 chở theo con gái tên Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2019 đến tiệm V”, trên địa phận ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976 ngụ ấp Đ, xã T, huyện T làm chủ. Mục đích để đổi sợi dây chuyền vàng đang đeo sang mẫu khác. Tại đây, Vũ Thị Mộng H được nhân viên của tiệm V1 và đưa cho H 02 sợi dây chuyền vàng để xem, lúc này H nảy sinh ý định lấy trộm nên lợi dụng sự sơ hở của nhân viên và chủ tiệm vàng không để ý, H liền lấy trộm 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K, kiểu khoen lật, trọng lượng 02 chỉ 40,3 phân giấu vào túi áo khoác màu vàng đang mặc. Sau đó, Vũ Thị Mộng H giả vờ yêu cầu nhân viên tiệm vàng tiếp tục cho xem nhiều sợi dây chuyền vàng khác nhưng không vừa ý rồi ra xe điều khiển về nhà cất giấu sợi dây chuyền vàng vừa trộm được. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23-5-2023, Vũ Thị Mộng H mang sợi dây chuyền trộm của anh Nguyễn Văn T2 đến tiệm vàng “Kim Mai” tại khu vực ấp Đ, xã T, huyện T do bà Nguyễn Thị Tuyết M1, sinh năm 1961 ngụ ấp Đ, xã T, huyện T làm chủ bán được số tiền 7.300.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 08 giờ ngày 04-6-2023, H tiếp tục đến tiệm V” để sửa lại chiếc lắc đeo tay thì bị anh Nguyễn Văn T2 nhận diện phát hiện H là người đã lấy trộm sợi dây chuyền vào ngày 21-5-2023 nên trình báo Công an. Qúa trình điều tra, Vũ Thị Mộng H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết quả định giá tài sản: Tại Bản Kết luận định giá số 32/KL-HĐĐG ngày 31-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, dạng khoen lật, có trọng lượng là 02 chỉ 40,3 phân tại thời điểm ngày 21-5-2023 có giá là 8.888.000 đồng.

Việc thu giữ vật chứng: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 70H1-280.87 do ông Phạm Văn L đứng tên chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Vũ Thị Mộng H đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 8.914.000 đồng và anh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Kê biên tài sản: Vũ Thị Mộng H không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKSTC ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Vũ Thị Mộng H (P) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Thị Mộng H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thị Mộng H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Thị Mộng H thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 21-5-2023, tại tiệm V”, thuộc địa phận ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Vũ Thị Mộng H là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Văn T2 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, dạng khoen lật, có trọng lượng là 02 (hai) chỉ 40,3 (bốn mươi phẩy ba) phân, có giá trị 8.888.000 (tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn) đồng nhằm mục đích bán tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Vũ Thị Mộng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu truy tố đối với bị cáo Vũ Thị Mộng H và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng nhưng bị cáo Vũ Thị Mộng H biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chân chính nên hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị Mộng H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại anh Nguyễn Văn T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[5.1] Hình phạt chính: Bị cáo Vũ Thị Mộng H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, hành vi trộm cắp nảy sinh nhất thời và sau khi phát hiện sự việc, bị cáo đã bồi thường thiệt hại ngay cho chủ sở hữu. Hoàn cảnh của bị cáo đã ly hôn và đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con nhỏ. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng và đặc biệt có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo Vũ Thị Mộng H ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018 ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

[5.2] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo Vũ Thị Mộng H không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Thị Mộng H.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Văn T2 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại 8.914.000 (tám triệu chín trăm mười bốn nghìn) đồng của bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 (một) xe mô tô biển số 70H1-280.87 nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số khung: 0610GY350844, số máy: G3D4E367960 do ông Phạm Văn L đứng tên chủ sở hữu. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Phạm Văn L không biết việc bị cáo Vũ Thị Mộng H sử dụng xe môtô nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội và xe có giấy tờ hợp pháp nên cần trả lại cho ông Phạm Văn L là có căn cứ.

[8] Đối với bà Nguyễn Thị Tuyết M1 mua dây chuyền vàng do bị cáo Vũ Thị Mộng H trộm cắp mà có nhưng bà M1 không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Mộng H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vũ Thị Mộng H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Thị Mộng H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Trả cho ông Phạm Văn L 01 (một) xe mô tô biển số 70H1-280.87 nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số khung: 0610GY350844, số máy: G3D4E367960 do ông Phạm Văn L đứng tên chủ sở hữu.

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31-10-2023).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự: Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Văn T2 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại 8.914.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Vũ Thị Mộng H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thị Mộng H, ông Phạm Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - THA phạt tù;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Đội điều tra CA huyện Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 125/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Thị Mộng H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger